Teq's Blog

Về quê

Posted in Linh tinh by Tequila on January 22, 2014

Hôm nay tôi nghỉ làm, về quê, để chào một người chuẩn bị chết. Một người chuẩn bị chết thì không phải là chuyện có gì vui, song nhiều khi lại không hẳn là chuyện buồn, hay nói cách khác là những gì đáng buồn đã ở trong quá khứ rồi.

***

Cái việc buồn nhất, chẳng phải là cái chết sắp tới của ông, mà là cái chết của bà một năm trước.

Một năm trước, cũng tầm Tết này, ông trở nên yếu nặng, rất nặng, sau bốn năm năm bệnh tật đau yếu. Ai cũng nghĩ rằng ông không qua khỏi được cái Tết năm ngoái. Vậy mà người đột ngột ra đi, lại là bà, người đang rất khỏe mạnh và đang chăm sóc ông đau yếu. Một ngày, người ốm yếu là ông buổi sáng vẫn dặt dẹo ngồi dậy, người không dậy lại là bà, thật bất ngờ như vậy.

Đám tang bà năm ngoái, khi tôi về dự đám tang, thì hình ảnh buồn nhất và đẹp nhất là hình ảnh ông ngồi bên bậc cửa, lặng lẽ tiếp những người bạn già tới viếng tang. Hình ảnh đó rất đẹp, thậm chí tôi còn định rút điện thoại ra chụp, nhưng cảm thấy thế là bất kính, nên chỉ ngồi yên ngắm ông. Ông đau yếu nhiều năm và gần đây thường không được tỉnh táo lắm, tai lại điếc. Thế nhưng lúc đó ông ngồi bên cửa, lặng lẽ và trang nghiêm, mặt như tượng đá, điềm tĩnh trong nỗi mất mát. Tôi nhìn thấy rõ nỗi mất mát ấy đang sắc bén cứa như thế nào.

Không phải tôi tưởng tượng ra thế theo thói thường, tôi được kiểm chứng điều đó khi mấy tháng trước đây về quê, gặp ông trong một ngày ông rất tỉnh táo, ông có nói vẻ đùa cợt với tôi, một cách hài hài mà lại minh triết. Cháu ạ, ông không còn cố sống làm gì nữa.

– Sao vậy ông?

– Người đàn ông thì phải có vợ, có nhà, có tiền. Giờ ông chẳng có sổ tiết kiệm nào, vợ thì đã mất, nhà cũng không còn.

Sau khi bà mất, chú tôi đưa ông xuống nhà sau ở cùng cô chú để tiện chăm sóc. Nếp nhà trước, vốn làm quán nước, nơi ông bà vẫn sống chăm sóc nhau, đã để cho thuê.  Tôi cười bảo ông, nhà vẫn là nhà ông thôi mà. Nhưng tôi hiểu cảm giác của ông, có lẽ vì tôi là thằng cháu trưởng cho nên ông mới chia sẻ một cách rõ ràng như vậy. Đó là nỗi cô đơn, sự lạc lõng cầm nắm được.

***

Ông Cán là em út của ông nội tôi, chiến sỹ Điện Biên, cầm súng dưới chiến hào từ đầu tới hết chiến dịch mà không chết. Có lần ông Cán bảo tôi. Hồi đó, ông cầm súng dưới chiến hào, ông Hộ thì lái xe trên đèo, ông nội cháu thì ngồi hầm chỉ huy chỗ tường Giáp. Chiến thắng Điện Biên, ba anh em lao đi tìm nhau, cả ba thằng còn sống cả, mừng ơi là mừng.

Ông bảo, ba anh em ông đều theo Đảng đi đánh nhau, mà ông nội cháu và ông Hộ đều đã chết rồi, chỉ có ông sống được đến giờ này để chờ món tiền 60 năm tuổi Đảng. Đảng của ông thật khác với Đảng trên TV, nó là tuổi trẻ cầm súng của các ông.

Nay thì tôi vào bệnh viện huyện thăm ông. Người lính già nằm trên giường bệnh đợi chết, thân hình chỉ còn lại một nắm. Nhìn mặt ông tôi bất giác cau mày thở dài, mặt ông là mặt của một người đã chết, là gương mặt mà người ta thường nhìn thấy khi ngó vào quan tài khi đến các đám tang. Tôi không cố gọi ông, để ông nghỉ ngơi, ông đã không còn thuộc về thế giới này.

***

Rời bệnh viện, tôi đến đặt lễ thắp hương ở khu mộ của dòng họ. Tôi không mê tín theo cái cách thời thượng hiện nay, theo kiểu tin vào sự hiện tồn của người chết, gọi hồn gọi vía hỏi han cầu xin. Chết là hết và nếu có cái gì đó sau cái chết, thì các cụ cũng không rảnh mà cứ chạy theo phù hộ hướng dẫn cho bọn con cháu vốn đầu toàn cơm áo, người chết quan tâm gì mấy cái chuyện lẻ tẻ ấy. Thế nhưng tôi vẫn có những cảm giác rất đặc biệt mỗi khi đến khu mộ của dòng họ.

Ở làng quê Việt Nam, theo kiểu Việt Nam, các cụ vẫn tồn tại với con cháu. Ít nhất đứng trước bàn thờ và xung quanh là gần năm chục nấm mộ của các cụ trong dòng họ, tôi cảm thấy mình  vẫn có những gắn bó với rất nhiều người. Khu mộ nay là do ông nội tôi chủ trì đứng ra quy tập các mộ về. Tôi còn nhớ hình ảnh tôi chạy chơi xung quanh, ông nội thì đứng đó chỉ đạo mọi người xây khu mộ. Tôi cũng còn nhớ cái cách ông nội cầm cái đầu lâu của cụ tôi (tức mẹ của ông) giơ lên cho tôi xem, đen sì, còn ông nhe răng cười. Tôi cũng nhớ cái đầu lâu của ông, một cái đầu lâu có bộ răng giả bên trong.

Tôi cũng nhớ chú Thảo tôi, người chú xấu số mất sớm, người cao lớn đẹp trai nhất họ, năm xưa khi tôi đang tắm thì chú bước vào tắm cùng, tôi hỏi chú là, chú là bộ đội biên phòng thế chú có biết bắn súng không. Chú bảo, chú có thể bắn trúng một con ruồi đang bay. Tuổi thơ của tôi, và bây giờ nữa, tôi vẫn tin là chú Thảo có thể bắn trúng một con ruồi đang bay. Tôi cũng nhớ bà Ngấn, vợ của ông Cán – người sắp chết, khi tôi từ Nga về thăm ông bà, bà cầm tay tôi khóc mà nói “chú Thảo con mất rồi con ơi, nhà ông bà như cái cây bị đốn mất gốc rồi”. Tôi cũng nhớ bà Ngấn năm ngoái bảo tôi, ông mày sợ không qua được năm nay đâu, thế mà bà lại đi trước. Tôi cũng nhớ ông Hộ, em thứ hai của ông nội, và vợ ông là bà Chuôi, khi tôi còn bé đến chơi nhà thường cho tôi ăn một cái quẩy rất to. Tôi biết và nhớ nhiều người trong số họ.

Có một người rất đặc biệt, là cụ Chè. Cụ Chè chỉ nói chuyện với tôi một lần duy nhất. Năm đó tôi về quê, ăn giỗ xong xuôi, tối đến cụ Chè gọi tôi bảo đi dạo cùng cụ. Cụ dẫn tôi lên cầu Diêm Điền, rồi cụ bảo tôi, cháu có biết cụ dẫn cháu ra đây làm gì không. Tôi bảo không. Cụ nói, chỉ là để sau này mỗi khi về quê, nhìn đến cây cầu này, cháu sẽ nhớ là từng có một người là cụ Chè đã dẫn cháu ra đây chơi. Cụ mất sau đó mấy năm. Cả một đời người đôi khi chỉ là một câu nói.

Thế đấy, dòng họ thì đông, các ông các chú các cô các bà rất nhiều, nhớ không xuể, nhưng một lời nói của cụ Chè như thế khiến tôi không bao giờ quên cụ. Tôi chỉ nhớ và biết về cụ mỗi một câu như thế, thế vẫn là biết và nhớ đến.

Thế nên mỗi khi về quê, tới phần mộ của dòng họ, tôi có cảm giác rất gần gũi. Họ đã chết rồi nhưng họ vẫn sống theo cách như vậy. Khi thắp hương thì tôi tưởng nhớ đến họ và bỗng thấy rất an lòng, nước chảy mây trôi, đời này cứ sống như mình muốn, có đéo gì mà phải lăn tăn sợ hãi.

Lần này về thắp hương, tôi khấn các cụ rằng, ông Cán chắc sắp đi rồi, mong tổ tiên các cụ các ông các bà đón ông Cán về an nghỉ.

***

Từ khu mộ đi, tôi về thăm nhà ông Đề, một người em họ rất gần của ông nội tôi. Người mà sau khi ông nội tôi mất vẫn đứng ra giúp bố tôi lo liệu việc hương hỏa cúng giỗ các cụ. Vào, leo lên gác thắp hương xong đi xuống, hóa ra trong nhà có trẻ con. Một đứa trẻ mới sinh ra, là con thứ hai của chú Sơn tôi. Chú thím đều đang có việc đi đâu đó không ở nhà, có đứa bé ba tháng tuổi ở với ông bà. Tôi vào ngó đứa bé, cười bảo, xin chào ông em mới. Thằng bé rất xinh. Một đứa bé ra đời và một người già sắp mất đi. Đời sống vẫn cuộn chảy.

Rồi tôi đi về. Tôi đi theo đường cống Trà Linh. Đường về quê nửa chặng thì chia làm đôi, tôi đi theo ngả cống Trà Linh dù mặt đường xấu hơn nhưng cảnh thì đẹp. Cảnh làng quê bắc bộ vẫn còn. Thảng hoặc có mái nhà thờ nổi lên trên lúp xúp ngôi làng mái ngói xen lẫn mái bằng. Cách vài quanh đường lại có một cái miếu hoang nép mình bên cây gạo. Dòng sông Diêm Hộ uốn quanh mặt nước lấp loáng dưới ánh trời chiều.

Tôi là con của những người nông dân. Những người nông dân ven biển, làm ruộng, làm muối, đi biển, cầm súng, lái xe, lái máy bay, dạy học, rồi thì đi làm đường, làm máy tính, lái taxi…

Trở về nhà, tôi chất sau thùng xe một đống bắp cải, và một chai nước mắm. Nước mắm do thím tôi tự làm, rất ngon. Nước mắm ở quê tôi, đừng có để nửa giọt giây ra quần áo.

Trên đường 13/1/2014

Posted in Những con đường by Tequila on January 14, 2014

Suốt từ hồi tháng 6 tới giờ, chúng tôi mới quay lại Sapa. Năm 2013 đã qua một cách quá vất vả, tiền bạc thời gian và sức lực đều không đủ cho những chuyến đi, nên không đi được dù nhớ, đến cả thằng con cũng nhớ mà nhắc suốt. Lần này có chút việc, chúng tôi lại đi. Lại một chuyến đi ngắn ngủi, chóng vánh vào cuối tuần. Chúng tôi xuất phát lúc 9h tối Thứ sáu, tới 12h thì tới Yên Bái để ăn đêm, rồi thuê khách sạn ngủ, sáng ra lại đi, đường đông nhiều xe công xe tải bò chậm chạp, chiều thứ Bảy mới vào tới bản, trưa Chủ nhật lại đi, quá nửa thời gian là trên đường và chỉ được ở nhà mình có chưa đầy 24 tiếng.

***

Vào tới nơi chả gặp tay đàn ông nào. Chỉ có Quở chạy xe ra giúp chúng tôi chở đồ, mặt bư bư nửa trắng nửa đỏ vì rượu và buồn bã, hắn luôn già đi một bậc sau cứ mỗi ba tháng, mà năm nay hắn mới hình như 25 – 27 tuổi, nhếch nhác khác hẳn vẻ khỏe mạnh trẻ trung đôi ba năm trước. Anh Chư và các anh em của anh một nửa đi làm ở trên rừng, nửa ở nhà thì đã say khướt.

Lên nhà, khung cảnh tiêu điều rầu rĩ. Mùa này lúa đã gặt hết trơ ra nền đất nâu ảm đạm, trời âm u khiến cây cối như bớt xanh. Mảnh đất nhà tôi trơ khấc, anh Chư đã thu hết cây trồng và chưa sang xuân nên chưa trồng cây mới. Hàng rào sặt lần trước mất nửa ngày để làm, nay chỉ còn sót lại một ít, không biết ai phá đi đâu. Chỉ có nền sân bằng gạch mà vợ chồng tôi cùng bọn trẻ con làm, là còn nguyên vẹn.

Lũ trẻ trong bản thấy chúng tôi, bèn ùa tới. Chúng chạy qua vượt trước chúng tôi, lao tới cửa nhà, thò những đôi tay nhỏ bé qua khe cửa, nạy nạy cái then cài, mở cửa không đợi hỏi. Rồi chúng vác ghế ra, ngồi xếp hàng thành một dãy vòng cung trong nhà, đợi chia kẹo. Vợ tôi đưa kẹo bánh cho đứa lớn nhất, bảo nó chia cho các đứa khác. Lũ trẻ ngồi ngoan ngoãn nhận kẹo, không tranh cũng không đòi, rồi chúng òa ra chạy khắp nhà khắp sân, hò hét òm tỏi. Vợ tôi dọn dẹp những tấm chăn màn cáu bẩn để lại từ những tháng trước, dù khi chúng tôi vắng mặt cũng có em và một hai người khách lên, nhưng đã lâu ngày không sử dụng treo ở góc nhà ẩm thấp, chúng bốc mùi hôi mốc và loang lổ nấm rêu. Đằng sau nhà, nơi đường ống nước dẫn qua, nhoe nhoét nước, cứt lợn rải rác cùng đôi ba bãi cứt trâu to đùng, hôi hám.

Bà già nhà anh Chư đã khỏe lại. Hồi tháng 6 chúng tôi lên, bà ốm ngồi bên bếp lửa rên hừ hừ, kiệt quệ. Chúng tôi đưa bà ra bệnh viện Sapa, làm thủ tục nhập viện, bác sỹ bảo bà chỉ bị suy nhược thôi, nhưng cứ để vậy không đi viện là vài ngày sẽ kiệt lực mà chết. Thật may bà già đã khỏe lại. Dù sao, chúng tôi lên, vẫn có bà già, có vợ anh Chư, và con bé May con dâu anh, niềm nở đón. Bà già lọ mọ vác từ dưới nhà lên hai ba cây củi, mang vào cho chúng tôi.

Vợ tôi bảo bọn trẻ giúp nhóm lửa, khói bắt đầu đùn ra, tràn trong nhà lan ra ngoài sân. Tôi bắc ghế ngồi dựa cửa. Khung cảnh tiêu điều khiến tôi thấy buồn lòng. Tôi hút xong điếu thuốc rồi vào hỏi vợ “em có còn muốn ở đây nữa không?” “Sao anh hỏi thế?” “Thì hỏi vậy thôi”. Vợ tôi không hỏi nữa. Nàng ta vào nhà quét dọn, kêu tôi phụ giúp một số việc, rồi bắc bếp bắt đầu làm bữa cơm chiều cho chúng tôi và cho cả bọn trẻ con lốc nhốc.

Vợ tôi đã nổi lửa ở trong nhà. Khói lan tỏa ra trong nhà ngoài sân, khiến cho mùi sương chiều lạnh lẽo và mùi cứt lợn hôi nồng trở nên dễ chịu. Mấy con chó lượn qua lượn lại, hai con dê kêu ẹ ẹ đi dạo ngoài sân, mấy đứa trẻ lớn chạy qua chạy lại gọi chú Đức chú Đức… Tôi bình tâm trở lại. Đéo gì, nửa năm không quay lại, công việc văn phòng lại khiến tôi so sánh ngôi nhà trong thung lũng khói xanh của tôi với resort à?! Lỗi tại tôi chứ đâu phải lỗi tại mùa đông ở cái góc bản vừa qua đợt tuyết.

***

Chuyến này đi cùng tôi còn có hai anh bạn của vợ. Bạn mới quen, đúng ra là khách hàng, khách hàng ăn bún đậu. (Vợ tôi tận dụng cái sân vỉa hè ở minimart để mở quán bún đậu giả cầy, món ăn rất ngon, nhưng khách lúc thưa lúc vắng, gọi là bày ra xem kiếm thêm thu nhập bù chi phí. Năm 2013 này công ty của vợ khó khăn, tập yoga hít khí trời để tồn tại qua ngày. Nàng cất những bộ váy áo công sở lên giá quần áo, lấy ra những chiếc quần bò, quần kaki thời chúng tôi lang thang với nhau bằng xe máy, mặc vào và bán siêu thị bán bún đậu). Có anh khách hàng thân quen hay ăn bún đậu, công ty anh đóng ở gần đó, anh là một doanh nhân thành đạt sau khi làm thuê chán vạn cho các công ty nước ngoài, một con nghiện môn Aikido. Anh gọi vợ tôi là “cô bún đậu”. Vợ tôi kể với anh về Sapa, anh xin đi theo chúng tôi chuyến này, và kéo theo một anh nữa là em họ của anh, cũng là dân đã từng dành cả tuổi trẻ của mình để lang thang ở Pháp và châu Âu, con nghiện môn khí công. Trên đường vào bản, các anh ngồi ở thùng sau con pick-up của tôi, khoái trá ngắm núi trong sương mù và gặm ngô, cười phớn phở, chả buồn để ý tôi cua ra sao trên mấy khúc dốc gấp ngoặt chênh vênh mà đường vừa bánh xe.

Anh Aikido khoan khoái sau khi vớ được bi thuốc lào. Anh khí công thì chạy qua chạy lại chụp ảnh dê chó, chụp bọn trẻ con bẩn thỉu, và những cành hoa đào đang trổ hoa mà chắc là Chư vác ở đâu về dựng bên rào sặt. Vợ tôi sai tôi dẫn hai anh đi dạo, lên Đầu Dù. Ok, đi, bọn trẻ con tung tăng chạy theo, đứa trước đứa sau, đứa nào cũng chỉ một manh áo mỏng bẩn thỉu. Anh Aikido tính tình hồn nhiên như trẻ con, anh sờ vai sờ bụng mấy đứa trẻ, khen chúng người nóng ấm, công lực rất cao.

Tôi đưa các anh đi về phía Đầu Dù, sương ngày càng dâng dày lên. Cảnh đẹp làm các anh phấn khích, chụp ảnh tự sướng lung tung. Tôi thì chỉ lấy làm tiếc vì các anh đi lên đấy đúng ngày mùa đông u ám, ruộng bậc thang trơ khấc, khung cảnh tiêu điều. Những người đàn ông đàn bà đi ngược chiều chúng tôi, họ gánh những gánh củi trên vai, trên đường về nhà. Ai cũng chào tôi, dù có người tôi không quen hoặc không nhớ ra họ. Con bé Vang đi cùng một người đàn bà, gùi củi trên vai, nó mặc một cái áo vest công sở rất sạch sẽ, chắc có đoàn nào lên đây cho (bây giờ ở đây người ta đã mặc áo cũ của người Kinh lên cho), trông không được hợp lắm, nhưng cách mấy tháng trông nó lớn hẳn lên. “Cháu chào chú Đức” “Chào cháu” “Chú đi chơi à” “Ừ, con bố Minh dạo này xinh thế!” Con bé xấu hổ đỏ mặt cúi gầm rồi đi, trông thế này là nó qua xuân sẽ lấy chồng thôi. Mà tôi cũng chẳng biết nó là con Vang hay nó là con em sinh đôi của con Vang nữa. Rồi lại có một thằng thò dầu ra từ sau mông con trâu, leo lên vách đồi, “chào anh Đức!”. Tôi chả nhớ tên nó là gì, dù quen mặt, mặt thằng này nhìn như trong phim Thủy Hử, nhìn phát nhớ luôn không quên được. “Ờ, xin chào, đi đâu mà cầm súng thế”. Nó gác cây súng kíp dài ngoằng qua vai bên kia, “ờ, mình đi rừng về”.

Cứ thế, tôi dẫn anh Aikido và anh Khí công tới cầu treo, và leo ngược núi lên xóm Đầu Dù. Trời xẩm tối, anh Khí công có vẻ chán, nhưng anh Aikido vẫn hăm hở vì bị cuốn theo bọn trẻ con. Lên tới Đầu Dù, mấy đứa con trai leo tuốt lên cây, hái cái hoa gì rất đẹp cánh trắng nhị vàng, xuống đưa bọn con gái, và không quên tặng hoa cả anh Aikido, anh rất thích thú. Trong lúc anh Aikido và anh Khí công ngắm hoa chụp ảnh hoa, thì tôi đi thêm tới ngôi nhà gần nhất, có anh H’mong mặc áo cổ truyền đang ngồi đó. Tôi mời anh điếu thuốc. Anh này lạ, anh hỏi mình là ai? Tôi bảo, em là Đức, bạn anh Chư, vẫn dựng nhà cạnh nhà anh Chư đó. À, mình biết rồi, nhà đó là nhà của em mình đó, nó không ở đây nữa nên bán cho nhà Chư, bán hai mươi triệu mà, phải không. Vâng, em mua về dựng đấy, hôm nào qua em uống rượu. Ờ.

Xâm xẩm tối, tôi lại dẫn hai anh đi về. Về tới nhà là trời bắt đầu tối mịt. Món thịt nướng kiểu Hàn xẻng của vợ cần bếp gaz chứ củi ướt đốt không đượm, mà bình gaz du lịch đã hết. Tôi phải ra Sapa mua mấy bình mới. Sương xuống đặc, chạy xe tầm nhìn 3m, nhưng tôi thuộc từng mét đường rồi, nhìn công tơ mét thấy có lúc mình chạy tới 40km/h trên con đường quanh co rộng vừa bánh xe, bèn hãi hãi hãm lại, bò bò. Tới gần Sapa thì dở hơi đâm vào đường mới mở, bị lạc đường đâm nhầm vào chỗ rẽ cụt, lại lọ mọ lùi ra, cứ lùi vài mét lại mở cửa xe chạy ra sau ngó, vì đèn hậu không phá nổi sương chả nhìn thấy gì. Gần tiếng mới cầm theo bình gaz quay lại được nhà.

Vợ tôi đã chuẩn bị xong món thịt nướng, trẻ con được nhai phồng tôm và sau đó được cho một đĩa thịt to để ăn. Chúng yên lặng chờ đợi, nghe lệnh mới ăn, có lệnh là nhao vào, không hề tranh nhau một tiếng nhưng đĩa thịt hết trong khoảnh khắc. Anh Chư mò lên, anh vẫn còn say rượu, chả nói được câu nào, mặt mũi đờ đẫn. Ông anh Chư oai phong hoành tráng của tôi sau năm tháng ngắn ngủi thôi mà giờ đã ra vầy rồi.

Ba năm trước, các anh còn uống Sán Lùng tự nấu hoặc đi mua ở chợ Sapa. Mấy năm nay, quán nước mở ở đầu bản, bán rượu đéo gì mà 14 nghìn một lít, rẻ hơn cả Lavie. Rượu ấy uống không tèo mới lạ. Rượu rẻ nên các anh uống suốt ngày, ngày nào cũng uống. Hết trông đợi được ở thế hệ anh Chư mất thôi. Thằng Xu, thằng đẹp giai như Hàn Quốc, sang, cầm theo chai rượu nhà nó nấu. Uống vào nặng vãi chưởng. Một tí là nó đi có việc. Rượu thừa hắt vào đống lửa cháy đùng đùng. Bất đồ thằng con giai 4 tuổi rưỡi của tôi thấy hay cầm cả chai rượu hắt vào bếp lửa, lửa bùng lên, tôi hét lên giật lấy chai rượu, may sao, vẫn là rượu chứ không phải cồn nên tốc độ lan lửa thấp, tôi kịp giật ra trước khi lửa leo lên đến tay con. Thôi thì coi như nó học được một bài mời.

Hai anh Aikido và Khí công xem ra không thể ở được như bọn tôi. Tôi khuyên các anh về Sapa kiếm khách sạn. Nhưng mà xe tôi gửi ở trường học, giờ tối này (mới 9h kể như khuya lắm), cô giáo đã đi ngủ rồi không tiện lấy chìa khóa cổng để đánh xe ra nữa. Con giai anh Chư bị ốm hình như cũng ngủ sớm rồi, mà xe lởm cũng không dám cân ba đi. Các anh quyết định đi bộ 5km để ra Sapa. Anh Aikido động viên anh Khí công, cuối cùng anh Khí công cũng bằng lòng đi bộ. Các anh đi hơn một tiếng trong đêm mới ra tới Sapa để thuê khách sạn, gọi điện cho tôi báo tình hình. Vợ con đã lên giường đi ngủ, chăn điện mang lên không đủ nóng vì điện quá yếu, nhưng trời may cũng không lạnh lắm. Tôi ngồi bên bếp lửa, đọc sách, mà chữ chẳng vào đầu. Tôi cứ bị hút vào cái ngọn lửa, củi khá ướt nên phải liên tay chăm thì lửa mới giữ được, cứ thế cứ thế cả hai tiếng tôi chỉ ngồi chăm ngọn lửa. Đầu nghĩ lung tung, vợ con thì ôm nhau ngủ ở góc nhà, tôi ngồi chăm ngọn lửa, uống nhấm nhấm ít rượu khê nồng, hút thuốc, nghe tiếng gió ù ù ngoài trời trộn lẫn tiếng chó sủa đổng trong đêm. Một hai lần tôi bò ra ngoài, ra cửa sau, tè vào khóm tre, trời không trăng không sao tối đen như mực, gió trên rừng thổi về lạnh ngắt. Mà tôi không thấy hãi, trong nhà vợ con đang ngủ, lại có bếp lửa, mình đi tè ngoài này giữa núi rừng, chẳng phải là hoành tráng sao. Cuộc sống thật không hoành chẳng leng keng như trong tưởng tượng, nhưng mà nó thật, và tôi càng ngày càng giống một thằng H’mong ở góc núi này.

***

Sáng Chủ nhật trời nắng đẹp. Vợ đã dậy từ sớm chăm sóc thằng con và cho nó ăn, tôi thì ngủ nướng, lấy cớ là đêm qua khó ngủ. Rồi tôi cũng dậy, tôi phải đi gặp chủ tịch xã.

Tuần sau chúng tôi sẽ đưa một đám lên đây, để xem dân H’mong làm nhuộm chàm, thổ cẩm và vẽ sáp. Tôi sẽ phải báo cho xã biết, để họ không vì lý do gì đó mà cản trở. Vợ bảo, hay thôi kệ, coi như là dẫn dân du lịch thông thường, anh báo với xã nhỡ xã gây khó dễ thì sao. Tôi bảo, ờ , em nói đúng, nhưng mình còn ở đây lâu dài, qua mặt xã là không nên, mình phải báo họ.

Tôi lại chạy xe ra Sapa, nửa đường thấy anh Aikido và anh Khí công đang thuê xe ôm cân ba đi vào. Tôi thò đầu ra bảo, các anh vào trước đi, em đi có việc tí. Tôi chạy vào Sapa, vào siêu thị mua chai Putinka, rồi vòng về vào nhà Vàng A Nủ chủ tịch xã. Tới nhà chỉ thấy vắng ngắt, có hai đứa trẻ đang chơi. “Bố Nủ đâu” “Bố say chưa dậy” “Gọi bố đi” “Bố không dậy đâu.”

Tôi lục trong xe ra cây bút tờ giấy, viết cho Nủ bức thư, lời lẽ như công văn, xong bèn cầm chai rượu và tờ thư bảo trẻ con dẫn vào trong nhà, định bụng đặt lên chỗ TV gửi lại cho Nủ. Bước qua cửa thấy trẻ con nói chí choét tiếng H’mong, tiếng Nủ em hèm ngoài sân.

Vàng A Nủ, chủ tịch xã, bằng tuổi tôi hoặc hơn kém một tuổi, đang ngồi sân sau. Chàng cởi trần, mặc độc chiếc quần cộc, đang cạo râu. Chàng là người H’mong mà cao lớn dềnh dàng, đẹp trai nhất trong số H’mong mà tôi biết. Thật sự là chàng rất đẹp, người Kinh ít thằng nào bì kịp. “Chào anh Nủ” “A! Chào anh Đức!”

Tôi cầm chai Putinka ngồi xuống bên cạnh Nủ, anh vẫn đang ở trần cạo râu, một vết sẹo to chạy từ cạp quần lên tới rốn. Tôi bảo, sắp Tết rồi nên đến nhà thì mình biếu Nủ chai rượu. Thôi, quà gì anh cầm đi đi. Có gì đâu, chai rượu ấy mà. Nủ kết thúc cữ cạo râu, đứng dậy, thuận tay cầm chai rượu, nghĩ thế nào thấy không phải lại bỏ ra đứng dậy vào thay quần áo. Nủ vào nhà mặc áo, tôi bảo thằng con Nủ, cầm chai rượu để lên bàn trong nhà cho bố, chỗ Tivi ấy, thằng bé làm theo.

Nủ ra ngồi cạnh tôi, tôi mời Nủ điếu thuốc. “Thuốc gì lạ thế nhỉ?” “Craven A, trong miền nam hay hút” “Thế à, thế anh định bảo em việc gì”. “Tuần sau, mình dẫn một đội vào bản, chỉ là tham quan thôi, qua xin phép Nủ trước, nếu cần mình sẽ làm cái công văn. Mình tưởng Nủ không có nhà nên viết thư, Nủ cứ đọc đi nội dung ở đấy cả”. Nủ cầm tờ giấy đọc, đoạn chàng bỏ tờ giấy xuống ghế “thôi anh cứ làm đi, chẳng phải xin phép gì đâu, em ủng hộ”. Trao đổi thêm hai câu cho phải phép rồi tôi chào về. Nủ không tiễn, nói “anh Đức đi đi, có gì cần báo em”. Tôi cười chào rồi đi. Tôi biết Nủ là người tốt, một người H’mong đẹp và tốt như vậy, nhưng mà lại làm công quyền, làm chủ tịch xã, tốt phạm vi tới chừng nào trong những hoàn cảnh nào thì phải nghiên cứu. Phải có lúc nào uống rượu với Nủ, xem Nủ nghĩ gì. Nủ là thủ lĩnh H’mong hay Nủ đơn giản là chủ tịch xã, hai thứ ấy nó khác nhau.

***

Tôi trở vào bản, vợ tôi đang dẫn anh Aikido anh Khí công, con trai và lũ trẻ xuống suối, rồi leo ngược suối để lại đi lên Đầu Dù. Tôi chạy con xe Wave tàu ghẻ của anh Chư, phóng trên triền núi theo con lối mòn cheo leo lổng khổng đá hộc, đuổi theo, rồi gặp mọi người ở cầu treo. Lại leo dốc đá lên Đầu Dù. Con bé Vang cõng thằng con trai tôi bởi nó chưa đủ sức mà leo núi, nó đi hơn một cây số đường lên xuống vậy là giỏi rồi, bảo nó leo đường núi đá thì quá sức.

Lên Đầu Dù, vào nhà anh Dinh, anh Dinh có nhà, thấy khách đến lấy khoai sọ ra luộc. Tôi ngồi với ông anh Aikido ngoài sân, trên những thanh củi, tôi bảo anh: Năm trước em đến đây, bà cụ già nhà Dinh đang ngồi, hỏi cụ bao nhiêu, Dinh bảo cụ 90, cụ phản đối bảo, tao phải hơn trăm rồi. Anh thấy đấy, cứ sống ở đây, sáng mặt trời lên chiều mặt trời lặn, xuân hoa đào nở mà đông thì giá buốt về, giữa sân lúc nào cũng có một con lợn nái nằm kềnh cang, 90 hay hơn trăm đâu khác gì nhau. Anh Aikido cười đồng tình.

Đang ngồi thì thằng Nhà đi tới, nó từ núi về, khoác gùi củi, tay cầm con quắm sắc lẹm. Tôi hỏi, hôm qua Xu bảo Nhà đi Fansipan, về không mệt à mà hôm nay còn đi làm. Nhà bảo, ngày nào cũng phải đi làm chứ. Nói đoạn bèn cùng tôi vào nhà Dinh làm chén rượu. Lại là rượu 14k/lít, thứ mà tôi nghĩ vài năm nữa thôi sẽ phá hỏng phân nửa đàn ông ở đây, tôi chỉ nhấp môi. Nhấp thì cũng phải hai chén, rồi xin phép về, hẹn Tết lên, trước khi về dặn nhà là tí nữa qua nhà tôi uống rượu.

Đội chúng tôi lại leo xuống núi đi về nhà, lại bày món ra ăn. Chư đã tỉnh rượu, thịt con gà, cộng với thịt anh Aikido mua từ sáng ở chợ Sapa, được một bữa to. Đàn ông trong bản lại kéo vào. Nhưng chỉ có bọn trai tráng là linh hoạt, các bạn các anh tôi là anh Chư anh Minh đều mặt mày đờ đẫn, các bố uống rượu 14k/lít quá nhiều rồi. Buồn phết chứ không phải không. Tôi chỉ uống bia.

Thằng Nhà về tới, vào uống rượu cùng. Nó đã học xong môn khèn, giờ nó là thầy khèn, nó đã thuộc hơn ba trăm bài khèn, đủ giai điệu khèn H’mong. Tôi đòi nó thổi khèn, nó sai trẻ con về nhà lấy khèn ra. Thổi một bản, khèn quá hay, khèn hay và chỉ hay khi nghe trên núi. Vợ tôi bảo Nhà ôm khèn mà múa một bản đi. Nhà bảo, chỉ khi có người chết thì mới múa khèn trong nhà, giờ nếu muốn phải ra sân. Anh Aikido thích, bảo Nhà ra sân.

Nhà đứng giữa sân, đi bài khèn như đi một bài quyền. Ban đầu thì đứng yên thổi, sau đó thì thì bắt đầu nhảy chậm rãi mềm mãi theo tiếng khèn, nhảy chiều đi rồi nhảy chiều ngược lại, cũng chậm rãi như thế, rồi lại đứng yên thổi kết thúc bài khèn. Anh Aikido nghe xong, tiến tới bắt tay rồi xin phép ôm Nhà. Nhà cũng ôm anh cười, rồi đi vào trong. Anh Aikido bảo tôi, thằng này là cao thủ, vừa thổi vừa múa, vừa vững như bàn thạch lại mềm như lụa thế, lại thổi không đứt hơi, chú không biết chứ phải nội lực rất cao mới làm được thế, anh cực kỳ khâm phục. Anh Khí công cất smartphone vào túi, sau màn quay phim Nhà thổi khèn, cười đồng tình.

***

Rồi lại vào ăn tiếp, rồi kết thúc.

Hơn 3h chiều thì chúng tôi lên đường, lại về Yên Bái ăn tối. 12h 30 thì về tới Hà Nội. Hà Nội đêm mùa đống vắng hoe và yên tĩnh lãng mạn ánh đèn đường. Xe tôi sau chặng đường dài đi lên đi về, đã phủ đầy lớp bụi nâu. Anh Aikido nói, giờ thì anh đã hiểu tại sao bọn em lại dựng nhà ở trên bản.

Chúng tôi chở các anh về đến nhà các anh, rồi chia tay, chúng tôi đi về. Lục tục khuân đồ lên nhà, đi ngủ, vợ con đã quá mệt mỏi sau chặng đường dài. Tôi lại mở một chai bia, rồi chai nữa, để nghỉ ngơi thoải mái sau chuyến đi. Tôi cứ thư giãn và đờ đờ uống hết hai chai bia. Nghe tí nhạc. Rồi rất rất khuya bèn vào phòng. Vợ nằm giữa hai đứa con mỗi đứa một bên. Tôi dẹp thằng bé vào một chút, rồi nằm xuống cạnh nó ở rìa giường, cố thu xếp để có thể nằm thẳng. Rồi thằng bé cọ quậy, tin cậy rúc vào nách tôi, quàng tay qua bụng tôi. Tôi cười hạnh phúc rồi lềnh bềnh trôi vào giấc ngủ, tay như vẫn cầm vô lăng quanh qua những khúc ngoặt trên chặng đường về.

Rồi sáng nay Thứ hai tỉnh dậy tôi đánh con xe phủ đầy đất của mình đi làm, tôi mặc một bộ complet và một cái áo khoác dạ. Trông tôi đàng hoàng và khá bờ rồ. Trong ngày tôi viết một đống email và ký một đống giấy tờ, trong đó có cả kế hoạch 2014 của tôi ở cơ quan. Tới chiều tôi lái xe về nhà, đưa vào bãi rửa xe, ngồi đợi cho người ta rửa sạch bụi đất cho nó. Rồi tôi lên nhà ăn cơm. Rồi cùng vợ xuống minimart làm những việc như mọi ngày chúng tôi phải làm, kết thúc ngày làm việc lúc 22h.

Rồi tôi ra ngồi đây, viết entry này. Tôi thấy mình ở trong bản, ngồi trước thềm ngôi nhà huếch hoác nghèo nàn, khung cảnh tiêu điều, gà chó, cứt lợn cứt dê, tôi giống là tôi hơn.

***

Trước khi rời bản ra về, thằng con tôi đang mải chơi với bạn trong nhà, nó không chịu về, nó nói nguyên văn là “con muốn ở đây mãi mãi”. Nó học từ “mãi mãi” ở đâu ra? Tôi phải dỗ dành nó, bụng nghĩ mày mới có 4 tuổi mày biết gì là mãi mãi. Và nó chỉ đồng tình theo tôi đi về, khi tôi đã động viên nó đi xin được một cái nỏ để mang về. Cái nỏ đồ chơi trẻ con, bị mất mất cánh nỏ, chỉ là một thanh gỗ đẽo hình giống khẩu shotgun.

Tôi dẫn thằng bé ra chỗ thằng bé H’mong, bảo nó nói “cho em xin”. Thằng bé H’mong cho nó cái nỏ đồ chơi đã hỏng, không có cánh nỏ. Thằng con tôi sung sướng ôm lấy cái nỏ đồ chơi ấy, tôi cũng thấy vui lây. Thôi thì cuộc sống sẽ cứ diễn ra theo cách mà nó diễn ra.

Con chó số chín và bản giao hưởng cuối của Beethoven

Posted in Linh tinh by Tequila on January 3, 2014

Rác ngày 13/8

Tối nay uống bia với các bạn.

Bà già thằng Nguyên lác có lần bảo, người ta nói ba mụ đàn bà và một con vịt thành một cái chợ, nhưng mà đàn bà bọn tao nói không nhiều bằng chúng mày. Tao chịu không thể hiểu nổi đàn ông đàn ang chúng mày nói cái gì hay ho với nhau mà thâu đêm suốt sáng, ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác. Bọn con cũng không hiểu lắm. Có lẽ ở những nước IQ cao người ta ít uống bia nói nhảm hơn. Ở đây bọn con IQ thấp quá nên thấy rằng một mình sống là không đủ. Sống nhiều cách mấy cũng là không đủ. Mỗi thằng sống một phách rồi khi gặp nhau bia bọt thì bắt đầu đưa ra ghép nối trao đổi với nhau – từ chuyên môn gọi là đồng bộ.

Hôm nay bạn Báu Egoist ra đây chơi, lại không có vợ đi cùng, thế là anh em nhất thiết phải đến. Do bạn có IQ cao nhất nên bạn ít nói nhất, chỉ ngồi im lặng tỏ vẻ ngu ngốc như nghìn năm nay, thỉnh thoảng cười keke. Còn khi tôi vừa đến, thì thằng Kỳ bảo, trước khi mày đến thì anh em vừa bàn rồi, thằng Báu thẩm du bằng sách, thằng Hải cave thẩm du bằng nhạc, thằng Hiệp phò thẩm du bằng đồ họa và dạy học, thằng Quân Dacam thì nó thẩm du bằng vẽ và dạy vẽ, mày với tao thẩm du bằng gõ chữ buổi đêm, thằng Tâm kỹ sư thẩm du bằng cái đéo gì mà Cisco.

Tôi nghĩ dạo này mình khùng thật. Viết liên hồi kỳ trận. Giá kể không phải đi làm thì tôi có thể đóng cửa viết cả tháng trời không nghỉ, bất kể hay dở.

***

Vào một buổi đêm, xuân hạ thu đông gì quên rồi, chúng tôi ngồi bên khung cửa 8 Ngô Quyền nhà bạn Kỳ. Lúc đó tôi ngồi dựa lưng vào tường cạnh cửa sổ, các bạn khác cũng vây quanh cái bàn, nghe giáo sư Hiệp phò thuyết trình với cái slideshow của chàng. Đề tài nghiên cứu đặc biệt của chàng về ảnh sex qua các thời kỳ lịch sử. Chúng tôi chỉ có sáu thằng, mà tôi thật tiếc cho phần còn lại của thế giới đã không được nghe buổi thuyết trình đó.

Phần còn lại của thế giới có hơn 7 tỷ đứa, trừ đi sáu thằng bọn tôi kể cả Hiệp phò, còn hơn 7 tỷ – 6. Tạm gọi là 7 tỷ –6 ấy viết thành số thì dài quá, và trong số đó cũng có biết bao ý nghĩ và bao nhiêu diễn thuyết, nhưng thật đáng tiếc cho bọn chúng. Chẳng bao giờ chúng được chứng kiến cảnh giáo sư Hiệp phò, nghiêm trang và thuyết phục như khi chàng đứng trên giảng đường, mắt long lanh gương mặt quắc thước cho đóng phim chưởng không cần hóa trang, tay bấm chuột mồm trình bày, trên màn hình thì lướt qua những hình ảnh, cái thì hân hoan cái thì buồn khổ, cái thì nâng niu cái thì thô lỗ, cái thì xót xa cái thì ân điển, cái nhung nhớ cái phũ phàng, cái cao minh cái ngu xuẩn, cái nào cũng cởi truồng.

***

Tôi mở một chai bia mới và bắt đầu bịa ra chuyện này:

Có một nhà sư, trụ trì một ngôi chùa tồi tàn đâu đó ở góc núi nào đó mà những phật tử phương xa và những đoàn từ thiện chưa buồn tới. Nhà sư ngày ngày, sáng ra đọc kinh xong thì đi tưới rau, xong rồi cho con chó ăn, rồi ngồi thiền, rồi đi ăn rồi lại thiền, hoặc chán ngồi thiền thì ngồi xổm trước gian chính chống tay lên cằm chờ mặt trời lặn. Buồn quá chàng tập võ nữa. Chàng tập mãi mà chưa đấu với ai hết, đêm tối không có ai chàng vẫn nhún chân bay một phát tới ngọn đa kiểm tra tổ chim, mà chàng vẫn không thể biết đích xác được là chàng có phải cao thủ hay không. Thời gian cứ thế trôi qua, chàng trụ trì chùa đó từ khi mà đất này chưa nổi can qua cho tới khi bình lặng, ngày nào chàng cũng tưới rau, tụng kinh và ngồi thiền và nuôi chó. Chàng trụ trì chùa đó từ khi mà những cô thiếu nữ theo mẹ vào chùa làm chàng xao xuyến và phải vào nhà sau đọc kinh như bổ củi, cho tới khi chàng trung niên và người ta muốn giao chàng làm tổng giám đốc năm bảy chùa trong cả vùng, mà chàng từ chối tất cả, cho tới khi chàng trở thành một lão sư già chỉ lanh quanh quét chùa và đợi chết. Chàng đã nuôi tới con chó thứ bảy, con nào cũng rụng hết cả lông và chết già.

Lúc đó chàng đã chín mươi tuổi, chàng nuôi sang con chó thứ tám. Da chàng nhăn nheo, tay chân chàng run rẩy yếu ớt, kinh kệ chàng đọc đã quá nhiều đến nỗi mỗi khi thắp đèn nhang chàng chỉ cần đọc tên kinh và nhắm mắt lại là lời kinh phát ra miệng, và tới tuổi đó chàng chẳng sợ gì thần phật lẫn ma quỷ, ma quỷ thường lởn vởn gần chàng mà cung kính, và chàng chỉ biết sống dai thế thôi chứ Phật chẳng độ được hơn nữa chàng bởi chàng quá trong sạch. Chàng chính là Phật rồi đó.

Một ngày có đứa con gái mười sáu tuổi, đẹp như hoa mộng, phong nhũ phì đồn, buồn đời thất tình, tới chùa gặp chàng. Nàng nói, sư cụ hãy chỉ cho con, con phải làm sao. Chàng nghĩ, mình đã chín mươi tuổi, đời mình chỉ toàn những điều trong sạch, chỉ biết đọc kinh luyện võ rồi cho chó ăn, biết nói gì với nó đây. Chẳng lẽ lại nói rằng nếu năm ba mươi ba tuổi mà ta gặp gái đẹp cỡ con, ta sẽ chẳng tu nữa. Rồi chàng phân tích một hồi, trích dẫn kinh kệ. Đứa con gái nghe lời chàng dù chả hiểu gì cũng thấy an lòng, về lấy đại một ông chồng rồi đẻ con, ngày rằm mùng một nào cũng đến chùa đặt lễ mong bình an cho con cái nó.

Rồi một ngày, khi chàng hơn trăm tuổi, có một đứa con trai mười bảy tuổi, chính là con của cô gái dạo nào, cũng đẹp như hoa mộng, chính trực can trường, mà chả biết nên sống đời mình thế nào, tới chùa gặp chàng. Hắn nói, sư cụ hãy chỉ cho con, con phải làm sao với cuộc đời mình. Chàng nghĩ, mình đã hơn trăm tuổi, đời mình chỉ toàn những điều trong sạch, chỉ biết đọc kinh rồi luyện võ và cho chó ăn, biết nói gì với nó đây. Chàng không trích dẫn kinh kệ như năm xưa nói với mẹ nó nữa, mà bảo nó ở lại với chàng ba ngày. Trong ba ngày chàng chỉ tưới rau, cho chó ăn, ngồi thiền, nhưng không tập võ cũng không bay lên ngọn cây. Thực ra chàng quá già rồi không bay lên xem trứng chim được nữa, game ấy chàng đã bỏ từ năm mới có bảy mươi ba tuổi. Sau ba ngày, thằng bé sốt ruột quá tới hỏi chàng, con đã im lặng quan sát sự cụ ba ngày nay, mà không biết sư cụ có ý gì dạy bảo con chăng. Chàng bảo thằng bé, đời ta chỉ biết có ở đây đọc kinh và nuôi chó, đâu biết thế giới ngoài kia có gì mà dạy gì con. Thằng bé hỏi, thế sao sư cụ giữ con lại ba ngày làm gì? Chàng bảo, thì để bây giờ con đi, làm gì thì làm, sống kiểu gì thì sống, nhưng con sẽ biết là có một cách sống là chẳng làm gì cả, đợi hết giờ, như ta vậy.

Mấy ngày sau, chàng chôn cất con chó thứ chín. Chàng thấy mình mệt mỏi, e không đủ thời gian mà đi xin một con chó con rồi về lại cho nó ăn tới hết đời nó, chàng vào thư trai, xếp bằng và viên tịch.

Người ta tạc một bức tượng chàng, đặt thờ ở góc chùa. Rồi có một vị sư mới tới trụ trì chùa, lập đàn giảng kinh, chấn hưng phật pháp, chẳng mấy chốc chùa nơi góc núi trở nên nổi tiếng, phật tử kéo đến đông nghìn nghịt, nhà chùa xây dựng thêm tới mấy gian điện, dân bản địa trong núi cũng khấm khá lên nhờ nương vào chùa mà buôn bán hương hoa, trông xe cho thuê phòng trọ, mở quán thịt rừng.

Một ngày có người đàn ông, vốn quê ở trong núi, tới chùa xin tá túc ba ngày, nhưng hắn chỉ thắp hương rồi ngồi trước bức tượng vị trụ trì cũ đúng một đêm, rồi tảng sáng sau đã bỏ đi.

***

03/1/2014

Tôi lục thùng rác, thấy vui vui bèn lôi cái đoạn viết từ tháng 8 bên trên. Bia về gõ loạch quạch, giờ đọc lại chả hiểu ý nghĩa mình viết là cái quái gì?!

Lôi ra đọc lại rồi post vì thấy có tí liên quan, bởi hôm trước ngồi với bạn GT và bạn Việt Kino ở Zone 9 (R.I.P anh Giôn) , các bạn bàn nhau về nhạc cổ điển, bảo là con số 9 là con số định mệnh. Hồi xưa có bọn người hành tinh đáp xuống trái đất, sáng tác nhạc cổ điển. Các anh người hành tinh chế tạo giao hưởng, bao giờ cũng tới bản số 9 là lên phi thuyền về giời. Có anh chế xong bản số 9 rồi, định vượt qua định mệnh, quyết tâm chế bản số 10, mới được một đoạn phi thuyền đã đến đón.

Thành ra cái đoạn mình viết bậy ở trên, sư cụ nuôi con chó thứ chín thì viên tịch, là rất chuẩn. Mà Zone 9 (R.I.P), ngẫm thấy cũng đen đen thế nào.

***

Tuần trước được đi nghe Bản giao hưởng số 9 của anh Beethoven, quá phê. Bản này thì nghe mãi rồi, nhưng đây là lần đầu được nghe nhạc thật ở trong nhà hát, nhiều đoạn thấy bị ngợp mới phát hiện ra mình nín thở liên tục. Nghe bản số 9 trực tiếp, mới thấy hiểu hiểu vì sao anh Beethoven có thể sáng tác được bản này khi đã bị điếc. Tai nghe được hay không quan trọng gì. Anh ấy sáng tác bằng ý nghĩ và bằng thứ logic không thuộc về loài người, không phải thứ logic loài người có thể nghĩ ra, nó là thứ logic của Thượng Đế được các anh người hành tinh mang xuống, convert thành thứ tín hiệu thuộc dải tần mà tai con người có thể nghe được.

Kết thúc bản giao hưởng, khán giả vỗ tay dài tới cả hơn mười phút, kiểu nó là như thế, để cho anh nhạc trưởng đi hết một vòng để trân trọng tán dương mọi người trong giàn nhạc, giới thiệu họ trong tiếng vỗ tay. Có anh Trung Quốc (thật không dám thiếu tôn trọng mà gọi là Tàu Khựa như mọi khi) tên gì quên rồi, giọng bass hay khủng khiếp, đứng ở hàng đầu mắt ngước nhìn khán giả. Đôi mắt anh long lanh, hạnh phúc, tự hào. Nhìn anh và niềm vinh quang sáng rỡ của anh trước khán giả giây phút ấy, thật khó mà tin rằng thế giới này còn có tăm tối và cái ác. Đồng thời, lại thấy cái ác và cái tăm tối của loài người hiện ra ám ảnh, bên dưới và bên ngoài thứ ánh sáng thần thánh của Thượng Đế mà các anh đã vừa diễn tả. Ánh sáng và bóng tối được tạo ra bằng cùng một công thức.

Dù sao, về tới nhà tôi bấm like và comment cảm ơn trên Fanpage của VNSO (Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam). Hôm sau thấy facebook báo mình được một cái like từ cái Fangage vắng hoe vắng hoắt ấy. Thật vinh dự vì đấy là cái bấm like của anh Honna Tetsuji, nhạc trưởng. Cảm ơn anh Honna và các cộng sự của anh. Năm nay vợ chồng em sẽ cố gắng mua cái vé năm, để ủng hộ các anh chị trong cả mùa giải. So sánh ra thì tiền mua cái smartphone đủ để đi nghe nhạc của các anh chị tới 05 mùa giải!

***

Năm 2014 đến rồi, một năm trôi qua nhanh quá. Bản nhạc 2013 đã kết thúc, nay là bản nhạc 2014. Nghĩ ra là không có cái gì gắn chặt với thời gian hơn âm nhạc. Âm nhạc chỉ tồn tại trên dòng chảy tuyệt đối của thời gian. Cuộc sống này cũng vậy, diễn ra trên dòng chảy vĩ đại ấy, bất kể hay dở.