Teq's Blog

Cổ tích Sói Lucas

Posted in Bịa chơi by Tequila on May 23, 2017

Có những lúc, thường xảy ra vào cuối buổi sáng của một ngày làm việc, giữa những lùng bùng của cái mạng nhện do mình tạo ra và những cái mạng nhện mình bị lồng vào, bỗng dưng tôi thấy đầu óc mình sạch trơn, cơ thể mình khoan khoái, cuộc đời thật đẹp. Tôi quên khuấy những lo toan và những điều tồi tệ, đun một tách cafe, đốt cái nến thơm, châm điếu thuốc, gác chân lên bàn, mở một bản nhạc thật hay mà mình đang thích, rồi chìm vào đó trong 5 phút, 10 phút, nửa tiếng… tùy vào việc chuông điện thoại hay tin nhắc việc rung lên khi nào.

Tôi vẫn là một đứa trẻ mộng mơ. Trong những giờ khắc tuyệt vời như thế, tôi trôi vào những kỷ niệm, những hình ảnh cũ, hoặc hơn nữa là những không gian trong tưởng tượng, những ký ức chưa từng xảy ra. Những ký ức chưa từng xảy ra ấy có thể mờ mịt, có thể rất chi tiết, chỉ cần có đủ thời gian và có muốn chi tiết hay không, tôi sẽ zoom vào cận cảnh như là vặn chuột để zoom bản đồ Googlemap. Đó là một trò chơi rất thú vị nhưng không phải lúc nào cũng có thời gian có sự yên tĩnh và đầu óc sạch sẽ để mà chơi. Tôi chỉ có những tiểu cảnh, một lúc nào đó có thể tôi sẽ ghép chúng lại thành một bộ phim. Lúc cuối giờ sáng nay cũng vậy.

Tôi đang ngồi trong một quán rượu Thượng Hải 1930, uống whisky trong đậm đặc khói xì gà, ngắm cô ca sỹ đung đưa trong chiếc áo dài màu huyết dụ. Tôi nằm dài trong góc hào, bụi và thuốc súng nóng cào trong cổ họng, không còn sức để đứng dậy nữa, hơn cả nỗi sợ mà là nỗi tuyệt vọng và buồn rầu khi lấp ló những tên địch đã hiện ra sau làn khói. Mặt biển phẳng lặng sóng lăn tăn lấp loáng,  vừa ném cho tôi cuộn thừng, lão già bệu xấu xí vừa chửi tôi bằng một thứ tiếng tôi không hiểu. Tôi ngắm nhìn cô gái đã nửa tiếng, mặc dù cô không đẹp lắm nhưng tôi cần phải có một ai đó để nhìn trong buổi tối hôm ấy, thế rồi cô ấy quay sang nhìn tôi, cái nhìn của cô có một vẻ gì đó khiến tôi biết rằng nếu còn ngồi lại thì tôi sẽ yêu cô, tôi bỗng cảm thấy sợ và đứng dậy trả tiền bỏ đi khỏi quán, mãi đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái nhìn của cô. Tuyết, toàn là tuyết, chúng tôi sẽ làm thế nào mà vượt qua được cánh đồng rộng lớn toàn tuyết này đây, người bạn đồng hành câm lặng của tôi vẫn đang khó nhọc bước lên từng bước một, anh vẫn chưa thèm hỏi tên tôi là gì, một tiếng sói tru dài vọng tới từ triền núi sau lưng…

Sói à? À hóa ra list nhạc của mình lại random ra cái bản nhạc này.

***

Ở cái thời xa xưa ấy, thời mà người ta còn tin vào thơ ca và những điều kỳ diệu, thời mà ai cũng sẽ gặp may mắn nếu trên đường bộ hành tình cờ nghe được điệu dân ca bên bến nước, ở thời đó có một ngôi làng, cũng nhỏ và cũng như mọi ngôi làng khác trên khắp vùng bình nguyên rộng lớn này, người ta giữ lửa trong đêm bằng những câu chuyện cổ tích.

Làng nằm ở rìa phía bắc của bình nguyên. Chỉ có hai con đường để đến làng. Một là từ phía tây men theo dòng sông mà đến. Hai là từ phía đông nơi có những dãy núi cao quanh năm tuyết phủ. Ai đến làng, câu đầu tiên họ được nghe luôn là câu hỏi, anh từ đâu đến, dù người làng biết tất cả những người đến đây đều đi từ phía tây dọc theo con sông. Đường phía đông từ núi xuống, là đường của nai sừng tấm, bò rừng và những kẻ săn đuổi chúng, những con sói.

Anh từ đâu đến? Tất nhiên, tôi đi từ phía tây dọc theo con sông này, lữ khách trả lời. Rồi nếu lữ khách cứ theo con đường lát đá, lữ khách sẽ đi qua giếng nước, rồi tới cánh cổng gỗ của ngôi nhà mà trên cửa sổ không hiểu sao luôn được buộc một dải nơ xanh. Lữ khách có thể sẽ gõ cửa căn nhà, xin một cốc nước nghỉ chân, ngồi dưới bậc thềm nhà.

Rồi có lẽ người lữ khách vô danh đó chính là người đã mang câu chuyện này tới những bếp lửa của những ngôi làng xa xôi nhất ở phương nam, và từ đó nó sẽ được tên cướp biển kể trên những con thuyền buồm đen vượt đại dương, đem nó đến với những xứ sở ở tận bên kia bờ biển.

Những kỵ sỹ đi ngược bóng đêm

Hành lý là thanh gươm sứt mẻ, những vết thương, và bài ca của phương xa

Họ trở về nhà sau cuộc chiến chinh,

đường dài đường dài từng người từng người ngã xuống

tuyết rơi lên những thân hình ấy

Chỉ một người cuối cùng, sau khi chôn cất hết các bạn mình

đã được hát bài ca phương xa bên bếp lửa ngôi nhà cũ

Người trong làng gọi cô bé là cô bé quàng khăn đỏ, bởi cô bé lúc nào cũng choàng một tấm khăn lụa đỏ dệt chìm những họa tiết của phương đông. Đó là quà của cha cô bé, khi ông là người lính duy nhất trở về làng sau cuộc chiến ấy. Ông về vào giữa mùa đông, treo thanh gươm của mình lên tường, và hay ngồi bên bếp lửa mà nhìn nó hàng giờ. Ông ít nói chuyện với mọi người trong làng, thường chỉ gật hoặc lắc đầu. Ông chỉ hay cười với cô bé và mẹ cô, nụ cười ấm áp nhưng vẫn như là đến từ nơi xa lắc. Lúc vui là những buổi chiều làm đồng về, ông ngồi bên bậc thềm, ôm cô bé vào lòng, ngắm nhìn những rặng núi, kể cho cô bé nghe về những miền xa, nơi này người ta làm những bình gốm có màu ngọc lục bảo, nơi kia người ta dệt vải và nhuộm màu thành mười ba sắc độ của mặt trăng, như thể ông đã trở về từ xứ thiên đường huyền ảo.

Niềm hạnh phúc của cô bé không kéo dài. Vào đầu mùa đông năm sau, vào ngày tuyết rơi đầu mùa, cha cô lấy thanh gươm từ trên tường nhà xuống, đóng hành lý và ra đi. Ông bảo với mẹ cô bé, anh đã cắm những thanh gươm của các bạn mình lên mộ của họ, anh nghĩ mình đã sai, anh sẽ đi tìm lại chúng để trao lại cho những đứa con trai của những người bạn từ thuở ấu thơ ấy. Mẹ cô bé không hiểu được tại sao, nhưng nước mắt không thể nào ngăn cản.

Ba năm rồi kể từ ngày cha cô bé ra đi. Bà ngoại nói, cha cháu sẽ về, nhưng cháu phải luôn quàng tấm khăn đỏ của cha, điều đó sẽ giữ may mắn ở bên ông ấy. Cô bé nghe lời. Mùa đông cũng như mùa hè cô quàng lên tóc và thả nó trùm hai vai xuống tận eo lưng. Người làng mỗi khi gặp cô bé, đều đứng lại chào cô, “chào Cô bé quàng khăn đỏ, Chúa sẽ phù hộ cho cha cháu sớm bình an trở về, như đã từng như thế”. Đôi khi những lời ấy khiến nỗi nhớ cha của cô trở nên không chịu nổi, cô lủi thủi đi qua cánh rừng thưa để đến với bà ngoại.

Hôm ấy có một người từ phương xa tới làng, người ấy hỏi, đây có phải ngôi làng của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm không? Mọi người gật đầu. Người ấy nói, mùa đông năm ngoái tôi có gặp ông ta ở một quán rượu ven đường, với một túi vải đựng những thanh gươm đã tìm được, bão tuyết và tôi cùng ông ta nói chuyện suốt đêm. Ngày hôm sau bão vẫn chưa ngưng, nhưng ông ta nhất định lên đường. Ba ngày sau, bão tan, tôi đi, cũng đi theo hướng kẻ gàn dở ấy đã đi, vì các bạn biết đấy, đường là độc đạo, nhưng những quán rượu tiếp theo đều không ai thấy ông ta. Rất có thể ông ta đã chết.

Cô bé quàng khăn đỏ đứng lặng nghe. Rồi cô bỏ chạy đi trước khi giọt nước mắt đầu tiên kịp hiện ra khóe mắt, nhưng rồi chúng nhanh chóng thấm ướt đôi má và tấm khăn choàng màu đỏ. Cô chạy về phía rừng, chạy về phía nhà bà ngoại. Mùa đông tuyết rơi, tuyết trắng bầu trời và mặt đất, phủ kín mặt sông đóng băng, ngập tràn những cánh rừng và đồng cỏ. Người trong làng và vị khách phương xa nhìn mãi theo màu khăn đỏ của cô lấp loáng xa dần trong tuyết.

Cô bé chạy vào trong rừng, lúc lúc lại vấp ngã, rồi cô ngồi xuống một gốc dẻ gai, nép mình vào bộ rễ vạm vỡ của nó, rúc mặt vào tấm khăn mà khóc thành tiếng hồi lâu. Tới khi nước mắt đã cạn, cô quàng lại khăn, đứng dậy, và nhìn thấy nó, con sói to lớn lông xám đang ngồi nhìn mình chăm chú.

Những kẻ khách buôn đã mang câu chuyện Cô bé quàng khăn đỏ tới những ngôi làng khác, và nhất là bọn cướp biển, mỗi khi kể tới đoạn này, đều dừng lại để tranh cãi. Có kẻ nói rằng, ắt hẳn con sói đang no bụng, nó chưa gặp người bao giờ và rất có thể có những con sói không cho rằng người là con mồi hay là kẻ thù. Có kẻ còn khẳng định rằng, chó sói hay chó nhà thì đều là chó cả, và có những con sói sinh ra đã yêu quý con người, như những con chó kéo xe vậy. Lại có kẻ kể thêm rằng ông nội hắn đã gặp những người du mục phương bắc sống chung với loài sói.

Dù sao, chẳng ai biết được cả, đó là bí mật của con sói.

***

Con sói có bộ lông đen xám, những túm lông dài phủ lên đôi vai lực lưỡng thành một cái bờm dày từ cổ tới giữa sống lưng, đôi mắt màu hổ phách. Nó ngồi bất động nhìn cô bé chằm chằm, cánh mũi phập phồng, hơi khẽ nghiêng đầu.

Cô bé như thấy tim mình ngừng đập, sợ hãi tê dại, đôi mắt hổ phách của con sói gim chặt cô vào thân cây. Cô đã nghe bà ngoại kể về loài sói, những con vật hung dữ và tinh khôn bậc nhất, loài chiến binh săn mồi vô địch của núi đồi và thảo nguyên. Bà kể rằng khi bà còn trẻ, có những đàn sói xám đã theo những đàn bò rừng và nai sừng tấm từ những rặng núi cao phía đông tràn xuống. Chúng tấn công gia súc, bắt cả ngựa đang nhốt trong chuồng, giết chết toàn bộ chó nhà trong làng, và mang cái chết đến cho vài người chăn cừu. Tiếng hú gọi bầy và nhất là tiếng tru bi ai hoang dại kinh người của chúng vào những đêm trăng tròn khiến những người đàn ông dũng cảm nhất cũng phải dựng tóc gáy. Chính ông ngoại của cô bé đã cùng các bạn của mình, bắt đầu suốt từ mùa đông cho đến cuối mùa hè, đã lập các toán săn sói dùng cung nỏ và những chiếc bẫy thép lớn, vây và tiêu diệt những đàn sói, xua đuổi nhưng con sói cuối cùng ra khỏi những đồng cỏ cuối cùng, trở về những rặng núi của chúng. Từ đó đến nay sói không trở lại. Chỉ những người thợ săn dũng cảm và có phần liều lĩnh, khi đến gần những rặng núi xa ấy, mới đôi khi mơ hồ nghe thấy tiếng tru đáng sợ của loài sói.

Con sói vẫn ngồi yên, cánh mũi phập phồng, thỉnh thoảng lúc lắc đầu, đôi tai nhọn khẽ xoay theo từng đợt gió. Rồi không báo trước, nó nhấc mình dậy, quay lưng và bỏ đi, nhanh chóng khuất sau bụi cây trĩu tuyết.

Cô bé mất một lúc lâu mới định thần. Cô nhận ra mình đang run lên từng cơn. Cô bắt đầu chạy, nhưng ngay sau đó dừng lại ngay, cô sợ tiếng chân chạy của mình sẽ gọi con sói quay trở lại. Trong nỗi khiếp sợ, cô rón rén đi từng bước, không dám thở mạnh, vừa đi vừa nhìn quanh, rất lâu mới đến được ngôi nhà của bà, ngôi nhà ở ngay sau đoạn rừng thưa mà bình thường cô chạy vèo là tới.

Cô bé ôm chầm lấy bà ngoại. Cô thảng thốt kể cho bà nghe về con sói. Bà ngoại cô bảo, không phải sói đâu. Nếu sói về, thì ở đây bà sẽ là người đầu tiên nghe thấy tiếng hú gọi bầy của chúng. Những con sói đi theo bầy và chúng sẽ gọi nhau khi đi xa như vậy. Có thể cháu nhìn thấy một con chó săn hay chó kéo xe mải chơi mà thôi. Và nếu đúng là sói, thì cháu có thể bị nó ăn thịt rồi.

Đúng là mình chỉ thấy một con chó to lớn mà thôi, một con chó thật to lớn, cô bé nghĩ. Nỗi sợ hãi đã qua đi, cô lại nghĩ đến cha cô và cơn bão tuyết mà người khách phương xa đã kể. “Đa số người ta sẽ chết trong một cơn bão như vậy. Nhưng cha cháu thuộc về thiểu số, vì cháu vẫn luôn quàng tấm khăn này” bà ngoại nói và ôm lấy cô, lấy cho cô một bộ quần áo sạch và chải tóc cho cô, cho đến khi mẹ cô vì lo lắng đã tìm tới, đôi mắt cũng mọng đỏ vì nước mắt. “Chồng của con có phải là người có thể chết vì một cơn bão tuyết hay không?”, bà ngoại hỏi mẹ cô bé và nhận được cái lắc đầu. Đêm đó hai mẹ con ở lại nhà của bà ngoại. Cô bé nằm mơ thấy cha mình trở về trong đêm, gọi cô “Khăn đỏ xinh đẹp của cha, mở cửa nào!”, cô nhỏm lên khỏi gối, hé khe cửa sổ nhìn ra thì chẳng thấy ai, chỉ thấy trong bóng tối hai đốm tròn rực lửa lóe lên rồi biến mất.

Sáng hôm sau mẹ đưa cô về nhà. Những ngày chờ đợi lại tiếp diễn như bao ngày khác. Cô bé quàng khăn đỏ vẫn còn là một cô bé và vào thời ấy thì ai cũng tin vào những điều kỳ diệu. Cô tin cha mình vẫn đang đi tìm những thanh gươm, cô vẫn quàng tấm khăn đỏ in chìm những họa tiết lạ mắt của phương đông để bảo vệ cha khỏi những cơn bão tuyết khác. Và cô bé biết rằng con vật to lớn có đôi mắt hổ phách ấy, chính là một con sói.

Trong niềm tin thơ trẻ ấy, cô mơ mộng rằng con sói sẽ quay lại, nó sẽ ở quanh đây, dẫn cô đi săn nai trên những triền núi xa, bảo vệ cô khỏi những con thú hoang, và khi cô lớn lên một chút, nếu lúc ấy cha cô vẫn chưa về, nó sẽ dẫn cô đi tìm cha cô, tìm Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm.

***

Nhiều năm về trước, khi chiến tranh chưa đến, khi nghỉ chân ở những quán rượu phương nam, những khách buôn thường kể cho nhau nghe về ngôi làng xinh đẹp ở thung lũng xinh đẹp nhất của bình nguyên, làng của những sắc màu rực rỡ. Vào mùa xuân, những đồng cỏ của nó mọc lên những tấm thảm dệt bằng những loài hoa đẹp nhất. Vào mùa hạ, nước sông của nó xanh biếc và lóng lánh như vòng ngọc mà bọn cướp biển đem được về từ bên kia đại dương. Vào mùa thu, sắc vàng của nó là không đâu sánh được và mùa đông thì tuyết cũng như thể trắng hơn tất cả mọi miền khác.

“Họ thật là may mắn” – một khách buôn đường xa nói – “dân ở trong ngôi làng có dòng sông và những cánh đồng đẹp tuyệt vời ấy. Tôi tin rằng ngôi làng ấy không có nhà thơ, vì không ai gom đủ nỗi buồn”.

“Đúng vậy” – một người khác nói – bệnh tật thậm chí cũng không đến đấy, những người già trong làng sống dai đến nỗi quên mất cả tên mình. Nghe nói họ từng là những chiến binh rất dũng cảm đấy. Nhưng đã quá lâu rồi chẳng có cuộc chiến nào lan được đến đấy và gọi những người đàn ông ra đi. Những thanh gươm của cha ông họ chắc đã rỉ sét hết cả rồi. Đến chó sói cũng lâu lắm không còn đến đó”.

“Một nơi thiên đường như vậy” – tay trẻ nhất hỏi – “vậy sao các anh không đến đấy mà ở?”

“Chúng ta biết làm gì ở đấy, chẳng có gì để làm ở đấy cả, đó chỉ là nơi ta đến, buôn bán vài thứ ,trầm trồ và đi, giống như cậu không thể ngồi cả ngày mà ngắm một bông hoa.”

“Vậy phụ nữ của họ thì sao?”

“Họ là những phụ nữ đẹp nhất trong khắp bình nguyên này, tôi nghĩ thế, có lẽ là cả bên kia Núi Lớn nữa cũng không có đâu đẹp hơn họ. Nhưng họ không màng gì tới chúng ta, những kẻ phương xa lang bạt. Có khi họ cũng không biết yêu”

“Phải” – tay khách buôn đầu tiên tiếp lời – “tôi đã bảo là họ không có nhà thơ. Ở nơi mà không có nhà thơ, không có nỗi buồn, thì là nơi mà Thượng đế đã lãng quên và tất nhiên tình yêu cũng bị quên đi nốt, không sao mà nhớ ra được”.

Tay trẻ trai tất nhiên không thể đồng ý, và họ cứ tranh luận mãi đến khi ngà say và đi ngủ, chuẩn bị cho ngày mai lên đường. Rất nhiều những câu chuyện như vậy nói về ngôi làng của những sắc màu rực rỡ khiến các tay chủ quán rượu suốt các nẻo đường miền nam của bình nguyên này trở nên chán ngán và coi là thứ tầm phào của bọn khách buôn phiêu bạt chẳng bao giờ thực sự có nổi ngôi nhà của mình dù vợ họ có đẻ ra mười đứa con đi nữa.

***

Làng ở rìa phía bắc, nơi xa xôi nhất và may mắn nhất, nhưng mùa xuân năm đó chiến tranh cũng đã gửi cho họ lời hiệu triệu đến từ thủ lĩnh của tất cả các ngôi làng của bình nguyên.  Người đưa tin, một kỵ sĩ tóc trắng mũi khoằm và gương mặt dài như cái lưỡi cày, sau khi uống hết cốc sữa to tướng để lại sức, mỏi mệt nói rằng anh đã đi khắp các làng miền bắc và đây là nơi cuối cùng. Lời hiệu triệu trên tấm da dê thuộc, có đóng dấu của vị thủ lĩnh, và vết máu in lên bằng lưỡi của con dao găm khắc hình mặt trăng thượng huyền, chỉ viết một câu, “Hỡi những người anh em ở những bản làng xa xôi nhất, hãy chiến đấu cùng chúng tôi”. 

Người cha của cô bé, người mà sau này được gọi là Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm, đã xung phong trước tiên. Rồi theo anh là mười lăm người bạn, những người đã cùng nhau lớn lên trên dòng sông và đồng cỏ và những cánh rừng, những người đàn ông khỏe mạnh nhất làng, những người thuở nhỏ từng nghe mê say những câu chuyện bên bếp lửa về những kỵ sỹ can trường xưa kia từng đánh bại những kẻ đến từ bên kia rặng Núi Lớn phía đông, và vẫn còn giữ gìn những thanh gươm của cha ông.

Năm đó người cha hai mươi bảy tuổi, anh nói với vợ mình, một thiếu phụ xinh đẹp mái tóc màu hạt dẻ lượn sóng, người mà từ lâu đến với anh tự nhiên như đương nhiên phải thế, nhưng họ mới chỉ có một bé gái bốn tuổi cũng tóc màu hạt dẻ, rằng, ngày mai anh đi và anh sẽ sớm trở về.

Chiều hôm đó, anh dẫn con gái ra đồng cỏ, con bé không hiểu sao chỉ hái những bông hoa màu đỏ và anh ôm một ôm những bông hoa đó về nhà. Anh lấy thanh kiếm của ông nội mình, thứ mà anh vẫn gìn giữ dù không nghĩ là cần đến, mài sắc lại và cắt cho bằng những cuống hoa, bó chúng thành từng chùm nhỏ, thắt lên mỗi chùm một dải nơ xanh cắt ra từ tấm vải cũ chẳng biết để trong nhà từ bao giờ. Rồi con gái anh mang những chùm hoa đỏ rải khắp nhà, trên bàn ăn, trên sàn nhà, dưới chân giường, gài lên cửa, và nó đòi anh buộc một dải nơ lên cửa sổ, nói để bao giờ cha về cha sẽ nhận ra nhà mình. Đêm đó anh yêu vợ mình trong hương hoa dại phảng phất rồi ngủ thiếp đi trong vòng tay của nàng, úp mặt vào ngực nàng và môi anh cảm thấy vị mặn mặn không biết là mồ hôi hay nước mắt.

Sáng hôm sau mười sáu kỵ sỹ, là anh cùng mười lăm người bạn ấu thơ, lên đường và họ chia tay những người phụ nữ và những đứa trẻ một cách đơn giản như là chỉ đi săn nai săn gấu.

Chiến cuộc kéo dài tới năm năm.

Nếu câu chuyện tầm phào của những tay khách buôn thời còn hòa bình ấy là đúng, rằng ở ngôi làng này không có nỗi buồn, thì anh và các bạn đã biết tới nỗi buồn đầu tiên sau ngày lên đường hai tháng. Đó là khi người bạn hàng xóm của anh, là kẻ mà khi xưa đã đánh cuộc với anh xem nàng, vợ anh bây giờ, sẽ yêu ai, đã chết vì một nhát kiếm xả từ vai trái xuống ngực. Anh và mười bốn người bạn còn lại đã chôn cất người bạn ấy bên một gốc sồi già, đánh dấu cây sồi bằng một chỉ dấu chỉ các anh biết với nhau, và cắm lên ngôi mộ người bạn thanh gươm của anh ta.

Những nỗi buồn cứ tăng dần lên. Anh cắm xuống đất một thanh gươm khác, ở rìa ngôi làng vốn nổi tiếng vì làm ra những bình gốm xanh màu ngọc lục bảo. Anh cắm thêm hai thanh gươm nữa ở cánh đồng tuyết của ngôi làng mà trước chiến tranh khách buôn thường đến và chờ hai tuần để gom đủ các tấm vải nhuộm mười ba sắc độ của mặt trăng. Rồi thanh gươm ở vách đá Đại Bàng, thanh gươm ở làng vốn có thứ rượu thơm nhất say nhất, thanh gươm ở khúc sông cạnh làng của vị thủ lĩnh huyền thoại xưa kia…  Chỉ có sáu người bạn còn theo anh vượt ra khỏi bình nguyên, nhập vào các toán quân khác truy kích kẻ thù vòng theo đường chúng đến, vòng ra sau những ngọn núi phía đông.

Kẻ thù cuối cùng mà họ đuổi kịp, là một chiến binh bị thương ở vai và tay trái, đang mất dần máu, đã để rơi mất thanh kiếm cong, hoàn toàn kệt sức và từ bỏ hy vọng sống, hắn ngồi xuống buộc ngựa vào gốc cây và đợi cái chết sẽ đến từ toán quân kiên trì truy đuổi. Hắn chẳng buồn nhìn khi anh và các bạn tới. Hắn lấy trong ngực áo ra và quàng quanh mình một tấm khăn lụa đỏ, hệt như màu những bông hoa dại mà con gái anh đã hái về nhà buổi chiều ấy. Có thể nỗi nhớ con làm anh mềm lại, hoặc có thể là nỗi buồn, khiến anh không còn đủ lòng căm hận để hạ sát tên địch. Anh và các bạn băng bó cho hắn, cho hắn thức ăn và bảo hắn đi đi. Hắn chẳng ngạc nhiên, có thể hắn cũng đã quá buồn. Hắn đưa cho anh tấm khăn quàng màu đỏ, nói, trước khi đi mẹ tôi dặn hãy luôn mang theo tấm khăn mẹ dệt này, nó sẽ giữ cho con trở về. Tôi muốn anh hãy nhận nó, như lời cảm ơn mà mẹ tôi sẽ nói với Thượng đế khi thấy tôi về trước cửa.

Nhìn theo kẻ thù cuối cùng ấy khuất dạng, họ không cảm thấy niềm vui của những kẻ chiến thắng. Nỗi buồn đã trĩu nặng trái tim họ, và họ chỉ muốn trở về nhà, càng nhanh càng tốt. Họ quyết định sẽ theo đường chim bay cắt qua Núi Lớn để trở về nhà nhanh nhất.

Nhưng họ đã sai. Hoặc có thể Thượng đế bị đánh thức vì nỗi buồn nỗi nhớ nhà của họ, Thượng đế mang mùa đông đến sớm hơn thường lệ. Những đợt tuyết dày và tiếng tru kinh người của những bầy sói trên núi làm họ kiệt sức. Rồi những cơn bão tuyết cũng mạnh hơn thường lệ. Anh, người cha, kẻ mà sau này là Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm, đã dùng cặp mắt khô khốc của mình ghi nhớ các chỉ dấu, lần lượt cắm sáu thanh gươm còn lại rải rác trên các đèo dốc của rặng núi, trước khi về được tới nhà.

Ai trong các anh cũng hứa với vợ và những đứa trẻ rằng, anh sẽ về, cha sẽ về. Nhưng chỉ một người giữ được lời hứa đó, là người có dải nơ xanh thắt trên cửa sổ. Có điều, anh đã không còn giống như là một người trẻ tuổi nữa.

Anh về và làm những công việc của một người đàn ông trong gia đình. Anh đi làm đồng, cắt cỏ, lấy nước, xay bột, chăm sóc những con ngựa,… như mọi người đàn ông khác. Mỗi chiều khi trở về nhà, anh ngồi trên bậc thềm nhà, ngắm những rặng núi xa, ôm con gái vào lòng và kể cho nó về những con đường và những làng mạc. Anh kể cho nó nghe về ngôi làng nơi người ta làm ra những bình gốm có màu ngọc lục bảo, anh kể cho nó nghe về ngôi làng nơi người ta dệt ra những tấm vải và mất hai tuần để nhuộm chúng thành mười ba sắc độ của mặt trăng. Anh kể nhiều miền đất và phong cảnh khác nữa.

Anh không kể cho con gái nghe về người bạn anh, tại ngôi làng có những bình gốm ngọc lục bảo, đã bị chém mất một cánh tay, người ấy vẫn lao theo anh và các bạn, rồi mới kiệt sức ngã xuống giữa vòng vây. Anh cũng không kể cho con gái nghe về hai cái xác không đầu ở cánh đồng của làng mười ba sắc độ mặt trăng, mà khi kẻ địch đã rút, mãi anh và các bạn mới tìm ra đầu của họ. Khi còn sống họ thường trêu trọc cãi vã nhau, nhưng nhớ về hai cái đầu của họ, anh cứ hoài nghi rằng mình đặt nhầm đầu người này vào mộ của người kia, vì hai cái đầu ấy quá giống nhau. Anh cũng chỉ kể về cây dẻ cổ thụ ở đỉnh Núi Lớn, mà không kể rằng đó là nơi anh và người bạn cuối cùng của mình đã ôm cuộn vào nhau dưới gốc cây tránh bão tuyết, như hai con mèo con ôm nhau ngủ bên bếp lửa, và khi bão tuyết tan anh đã chôn cái xác lạnh lẽo của người bạn cuối cùng dưới gốc cây ấy.

Anh chẳng thể giao tiếp bình thường được với người làng. Anh không sao mà nói chuyện được với vợ họ, con trai hay con gái của họ, cha hay mẹ họ, anh hay em họ, hay hàng xóm của họ, hay tất cả những người từng biết họ. Anh như thấy hổ thẹn khi mình còn sống, đã về tới nhà, sống, với vẻn vẹn một câu thông báo, tất cả bọn họ đã chết. Mỗi tối anh ngồi bên bếp lửa nhìn đăm đăm lên bức tường, nơi treo thanh gươm của anh, thanh gươm còn lại của mười sáu kỵ sỹ. Một ngày anh nói với vợ mình rằng, anh phải đi tìm lại những thanh gươm, anh nói rằng để trao lại chúng cho những đứa con trai của mười lăm người bạn ấu thơ ấy, một lý do vô lý anh nói ra vì không nghĩ ra được lý do nào hợp lý.

Anh, không, người đàn ông chưa già ấy đã không thể nào còn trẻ được nữa, ông ta quàng lên vai con gái mình tấm khăn quàng đỏ dệt chìm những họa tiết phương đông, hôn vợ mình, dịu dàng ôm đứa con gái đẫm nước mắt sau khi lại thắt lên cửa sổ dải nơ xanh, dặn nó hãy quàng tấm khăn quàng đỏ và giữ dải nơ xanh, rồi dắt con ngựa lông xám điểm xuyết những đốm trắng, ra đi, khuất dần sau tấm màn sạch tinh của cơn tuyết đầu mùa.

Ông, kẻ đi tìm những thanh gươm, kẻ đi thăm hỏi lại mười lăm cái chết của bạn mình, tất nhiên không thể nào là người có thể chết vì một cơn bão tuyết.

bf89b40231ac76c19dea674710a36e95

***

Tôi viết mấy khúc dài dài trên vào một buổi chiều thứ bảy, khi chẳng có ai ở nhà, một ngày đầu hè dịu mát. Nhưng mà tôi uống bia ướp lạnh, và nghe một bản nhạc tuyệt hay trong phim Sông Đông êm đềm. Bản nhạc bắt đầu bằng một khúc guitar rất nhẹ nhàng, rồi giai điệu của nó lôi tôi vào một không gian toàn là tuyết. Tôi đóng cửa phòng, mở nhạc thật lớn, nghe đi nghe lại bản nhạc, và thấy mình là một kỵ sỹ một mình một ngựa lần mò trong con đường núi lạnh lẽo cô độc. Tôi thấy thèm vodka và rút chai rượu trong tủ lạnh ra, và bắt đầu gõ liên tục câu chuyện về người kỵ sỹ đi tìm những thanh gươm.

Cuối cùng khi chiều đã tàn, tôi cảm thấy mệt mỏi không phải vì vodka mà vì quá tập trung. Tôi nằm dài ra sofa và ngủ cho tới khi tới giờ cơm. Trước khi ngủ tôi còn biết chắc là Kẻ đi tìm những thanh gươm rồi sẽ trở về trước khi con gái anh ta trở thành thiếu nữ, nhưng khi ngủ dậy thì tôi không biết nữa. Chẳng biết hắn có về được hay chết dọc đường, và con bé con sẽ làm gì với con sói của nó. Kệ cụ nó.

Nhiều tháng sau, tôi đến một thành phố băng tuyết vào cuối mùa đông. Ngồi trong phòng khách sạn, tôi bật đi bật lại bản nhạc ấy, và cũng bia, cũng vodka. Tôi nghe mãi bản nhạc, cho tới khi lễ tân gọi lên, báo là khách phòng khác than phiền vì mày bật nhạc quá to, mà lại có mỗi một bài cứ tua đi tua lại cả tiếng. Ở cái thành phố mà tôi đến, những bờ sông hoang vắng băng đã tan được nửa mặt sông, mùa xuân đang đến rồi. Thế là tôi viết tiếp một đoạn về mùa xuân đến với làng của những sắc màu rực rỡ.

Mùa xuân.

Mùa xuân trốn đâu đó sau những cơn tuyết cuối cùng, có thể nó bay lượn đâu đó ở trên đỉnh núi, hoặc nó nép mình lẫn vào những cơn gió, rồi bỗng một đêm mà cả người già nhất cũng chỉ có thể đoán chờ, có thể đêm nay, có thể đêm mai đấy, chứ không bao giờ biết đích xác là đêm nào, nó đến.

Người ở làng có những sắc màu sặc sỡ tin rằng, vào đêm mà Mùa xuân đến, Mùa xuân bay trên bầu trời như một cơn bão tĩnh mịch trong veo vô hình đến cả đại bàng cũng không cảm thấy, rồi giữa đêm ấy Mùa xuân giáng xuống mặt đất một tia sét. Ở nơi mà tia sét ấy giáng xuống, đúng vào lúc ánh mặt trời đầu tiên chiếu xuống từ đỉnh Núi Lớn đằng đông, ở nơi ấy sẽ mọc lên bông hoa xuyên tuyết đầu tiên cũng trắng tinh như màu tuyết. Rồi tiếp theo bông xuyên tuyết đầu tiên đấy, anh em của nó sẽ mọc dần lên và chỉ vài ngày sau đã tràn ngập cả cánh đồng, kéo theo những bạn bè khác, màu trắng, màu xanh ngọc, màu tím, màu vàng, màu đỏ… Rồi những đọt lá xanh nhú ra từ những cành cây trong mùa đông vốn đen thui như củi mục, chẳng mấy chốc sẽ phủ màu xanh kín những cánh rừng thưa quanh làng. Khi đó những con ngựa sẽ bồn chồn, chúng không thể ăn tiếp cỏ khô trong chuồng nữa, và người ta phải thả chúng chạy ra thảo nguyên. Khi đó ngay cả những kẻ thờ ơ nhất, cũng sẽ nhận thấy trong gió thứ mùi đặc biệt, thứ mùi trong và mát, mùi của Mùa xuân.

Rồi băng tan trên mặt sông, tuyết tan dần, lăn ra thành những giọt nước, chúng hòa vào nhau rồi chảy đi, tiếng nước tí tách róc rách ở khắp mọi nơi, trộn thành một bản nhạc vô tận được chơi bằng hằng hà sa số những cây đàn ba dây.

Mùi gió trong và mát, bản nhạc rung rinh muôn trùng của những giọt nước đang rơi khắp thảo nguyên xa vạn dặm, là thứ mà đột nhiên mùa xuân năm nay cô mới biết tới. “Đó là cô ấy, cô bé quàng khăn đỏ của chúng ta” – những tên cướp biển kể – con gái của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm”. Bản nhạc của mùa xuân này cùng với những sợi tơ rung động mơ hồ đến với cô bé khi cô ngồi trên thảm hoa gần bến nước, ngắm nhìn dòng sông và thỉnh thoảng dõi mắt về cuối chân trời nơi con đường quanh co biến mất, nơi mà cô tin cha mình sẽ trở về từ đó và cô muốn mình là người đầu tiên nhìn thấy người lữ hành cô đơn ấy.

Người trong làng vẫn chào cô bé, “chào Cô bé quàng khăn đỏ, Chúa sẽ phù hộ cho cha cô bình an sớm trở về, như đã từng như thế”, nhưng đôi khi cô đã bắt gặp những ánh nhìn có nét gì khác lạ, mà trước đây cô chưa từng nhận thấy. Đã thêm ba năm và thêm một mùa đông, cha cô chưa trở về.

Ở ngôi làng mà khi xưa những người khách buôn thoáng đến và thoáng đi cho rằng là nơi không có nỗi buồn, thì giờ đây trong mắt nhiều đứa trẻ mất cha đôi khi đến cả kẻ thờ ơ nhất cũng nhận thấy nét hoang vắng. Những đứa bé gái nhỏ không còn lớn lên giống mẹ của mình, còn những đứa bé trai lớn lên như thể chúng sẽ đợi những bầy ngựa đen mang trên mình những kẻ đeo kiếm cong.

Cuối mùa đông vừa rồi, trong làng đã có một đám cưới mà người già gọi là đám cưới đầu tiên của con mười sáu kỵ sỹ. Trong đám cưới ấy, người già bảo kê hai bàn dài, kê vào đó mười sáu cái ghế không ai được ngồi. Người ta đặt thức ăn trên bàn trống ấy, rót rượu vào mười sáu cái chén không người uống đấy. Đầu bàn là chén của hai người cha, cha của chú rể và cha của cô dâu, ở giữa là hai chén ấy là chén của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm. Trong đám cưới ai uống xong chén rượu của mình cũng phải đến uống một trong mười sáu cái chén ấy. Vào cuối bữa tiệc, chú rể đã uống một lượt mười sáu chén rượu, mỗi chén đọc một câu thành ra một bài thơ chưa ai từng biết, nhưng nó cũng không đủ hay để người ta nhớ được.

Mùa xuân năm ấy, người trong làng bắt đầu đồn đại nhau về sự xuất hiện trở lại của sói. Những người nông dân đi làm đồng xa kể rằng họ nhìn thấy những vết chân sói trên những rẻo đất ẩm ướt. Những người thợ săn kể rằng họ nghe thấy tiếng tru của sói ở những chân núi không xa lắm, mà trước đây ở đoạn đó họ không nghe thấy bao giờ.

Sói Lucas đã trở lại. Hồi thằng bé nhà tôi còn rất nhỏ, tôi thường đọc cho nó mấy tập truyện tranh mỏng về Sói Lucas. Còn con sói trong câu chuyện này chưa có tên, tuy nó cũng trở lại rồi, với những vết chân khổng lồ, gần gấp đôi vết chân những con sói khác. Vào đêm khuya ấy ở cái thành phố tuyết đang tan ấy, tôi nghĩ rằng cuối cùng Kẻ đi tìm những thanh gươm sẽ chôn mười sáu thanh gươm ở rìa làng, cùng với xác con chó sói, rồi hắn nắm tay đứa con gái đi về nhà. Hoặc là con bé con sẽ cùng với người yêu của nó, con trai của một trong những thanh gươm, sẽ chôn xác con sói cùng bộ hài cốt người cha cùng với mười sáu thanh gươm rỉ sét.

Khi tôi trở về Hà Nội sau chuyến công tác ấy, không gian của câu chuyện cổ tích này đã hoàn toàn bị đóng lại với tôi. Game này đã trở nên tắc tị và tôi không chơi tiếp được nữa. Cái nỗi day dứt cô đơn của buổi chiều hè ấy do bia, vodka và bản nhạc kia tạo ra đã không còn nữa.

Hôm nay trong cảm giác thư thái rất sung sướng, tôi lại thả mình một lúc vào những không gian mới mẻ khác, trước khi điện thoại tự nhiên rung liên hồi và tôi buộc phải quay về với công việc. List nhạc của tôi, giữa các cuộc điện thoại, bỗng lôi ra đúng cái bản nhạc Sông đông êm đềm đó, khiến tôi nhớ lại con sói. Tôi lục file word và paste vào entry này, biết đâu lúc nào rảnh rang đọc lại những bài viết cũ, không gian lại mở ra và tôi lại viết tiếp nó, cho vui, tôi vẫn muốn phá đảo game này để xem con sói cuối cùng chết như thế nào.

Bản nhạc đây, tôi phải mất một lúc lâu lâu mới tìm lại được trên youtube, dù file mp3 thì tôi vẫn vứt trong một thư mục nhạc lộn xộn của mình:

https://www.youtube.com/watch?v=dm8AougOGDk&index=16&list=RDWumpEVjK4dA

***

Bây giờ tôi cũng không còn nhớ tại sao cái bản nhạc này lại khiến tôi bỗng nhiên muốn kể một câu chuyện cổ tích cho riêng mình.

Một buổi chiều cho đêm nay

Posted in Bịa chơi by Tequila on June 28, 2014

Mấy bữa nay bị hút vào nhạc cổ điển, sau một hồi nghe nhạc nhẹ riết rồi bị nhàm tai, thiếu muối. Lên mạng đao được một lossless cái CD bộ ba sonata của Beeth do anh Bruno Gelber chơi, mạnh mẽ khác thường. Google thì biết là Gelber khi nhỏ bị bệnh, nằm trên giường mà tập piano. Lớn lên chắc do ảnh hưởng của bệnh tật mà hắn trở nên béo bệu và đi lại khá dặt dẹo, xem clip thấy hắn lết tới cây piano rất khổ. Nhưng hắn ngồi vào rồi thì biết tay hắn.

CD này Gelber chơi bộ ba Pathetique – Moonlight – Appassionata, chơi đều tuyệt hay, đặc biệt là Pathetique.

Tối nay nghe đi nghe lại mãi Pathetique do tay đàn đầy thể lực của Gelber chơi, hoành tráng lòi cả tai.

***

Một buổi chiều

Long tiến đến giá đĩa. Giá đĩa của anh chiếm hai ô lớn của cái giá sách, còn giá sách thì chiếm trọn một bức tường. Anh lấy ra CD bộ ba Beethoven Sonata do Bruno Gelber thể hiện. Long bây giờ rất nhiều thời gian, anh nghe nhạc theo chủ đề, mỗi chủ đề có thể kéo dài vài ngày cho tới cả tuần. Anh nghe theo tác giả, theo hãng đĩa nhạc, theo người thể hiện. Mấy bữa nay anh nghe tay béo Bruno Gelber. Anh bỏ CD vào đầu đĩa, chưa bấm play vội, cầm theo cái điều khiển từ xa, rồi ra ngồi ở cái phản vuông của anh, một cái phản gỗ vuông chằn chặn mỗi chiều hai mét, đặt ngay ngắn ở khoảng giữa cửa ra vào và dàn âm thanh của anh. Ngồi trên cái phản này, anh sẽ quay lưng lại với dàn âm thanh, để nhạc đến với tai anh từ phía sau và ánh sáng mặt trời thì ở phía trước.

Long ngồi xuống phản, anh rót ra một chén trà, châm một điếu thuốc và ngồi xếp bằng, lưng thẳng, mắt anh nhìn ra khoảng sân trước nhà nơi ánh nắng xuyên qua tán cây đang nhảy múa. Anh cầm cái điều khiển từ xa lên, quay lại bấm play. Chương một của bản Pathetique bắt đầu bằng một hợp âm đĩnh đạc. Gelber bắt đầu bản Pathetique một cách hết sức tự tin như thể cách mà hắn chơi là cách duy nhất đáng phải thế. Anh thấy Thu ngừng đọc sách, ngẩng lên nhìn anh. Cô đang ngồi nghiêng người, một chân co trên ghế một chân buông thõng, mái tóc dài uốn quăn phủ lên gần hết cánh tay cầm sách. Anh cười nhẹ nhàng, cô cười đáp lại, rồi anh quay mặt về phía khoảng sân.

Thu luôn đến đây vào trưa ngày thứ bảy, cô thường cứ tự mở cổng vào khi anh còn đang ngủ trưa và thường sẽ ở lại đến hết chiều để đọc những cuốn sách trên giá sách của anh, cùng những bản nhạc mà anh nghe.

Trưa nay Long mơ một giấc mơ lạ lùng. Anh thấy mình bước vào một phòng họp rộng, anh thấy mình đang ở trong một buổi phỏng vấn xin việc. Anh ngồi xuống chiếc ghế, đối diện với hội đồng tuyển dụng. Anh đặt hai tay lên bàn và nhìn họ. Họ là, là, là,… tổng cộng có bẩy người đàn bà. Một người là mối tình đầu của anh, hai người đã từng là vợ anh, bốn người từng là người tình của anh. Họ không bảo anh tự giới thiệu bản thân mình. Họ đặt những câu hỏi. Tại sao khi đó anh yêu em? Anh chưa bao giờ thực sự yêu em có phải không? Tại sao anh lại phản bội em? Đêm đó khi mình làm tình lần đầu tiên với nhau bên bờ cát, thực ra anh chưa hề yêu thậm chí không hề thèm muốn em – chính em – có phải không?… Long cố gắng trả lời rõ ràng từng câu hỏi một. Anh tập trung để khi nói là phải đi vào vấn đề ngay, không có những mệnh đề kéo dài thời gian kiểu như “tôi nghĩ rằng”, “tôi không chắc chắn lắm nhưng”… Sau mỗi câu trả lời thì người hỏi lại ghi điều gì đó vào cuốn sổ tay. Cuối cùng họ dừng lại, một người nói cảm ơn anh vì đã đến phỏng vấn. Anh cảm thấy hơi hoang mang.

Rồi Long bước ra khỏi căn phòng. Tay bảo vệ đầu cua gần trọc chào anh, rồi yêu cầu anh sang một phòng khác, anh không ngạc nhiên khi Quyên cũng đi theo. Anh bước vào phòng, ngồi xuống đúng cái chỗ mà anh thấy mình phải ngồi, bên cạnh bốn người đàn ông có người trẻ hơn anh có người già hơn anh. Quyên bước vào phòng sau anh, cô ấy ngồi vào vị trí người được phỏng vấn. Một người đàn ông đặt câu hỏi trước anh. Đến lượt mình, anh nhớ Quyên đã từng vô cùng quyến rũ đối với anh thế nào, rồi anh hỏi Quyên là em còn nhớ anh không. Quyên trả lời rằng cô ấy không chắc là đã nhớ anh suốt những năm qua.

Anh còn đi mấy phòng nữa ở vị trí phỏng vấn. Rồi tay bảo vệ đầu cua tiễn anh ra cửa. Anh thấy hơi hoang mang. Rồi khi thấy mình đã ra khỏi giấc mơ, anh với tay lấy cuốn sổ nhỏ vẫn để ở đầu giường, cuốn sổ gài sẵn một cây bút, anh ghi vài chữ vào đó để ghi nhớ lại giấc mơ này, anh viết, trưa nay những người đàn bà lại hỏi anh có yêu em không. Rồi anh trở dậy và lựa đĩa nhạc để nghe. Thu đã ngồi ở phòng ngoài từ bao giờ và anh thấy cô đang đọc cuốn sách mỏng mà anh đang đọc dở.

Long đã ở căn nhà này được mấy năm. Ngôi nhà nằm ở một khu ngoại ô, nằm ở rìa của khu ngoại ô đó, bên mé sông. Nhà chỉ có một tầng, nếu không kể gian phụ bếp núc thì chỉ có hai phòng, một phòng ngủ của Phong và một phòng khách nhỏ nơi anh kê giá sách, dàn âm thanh và chiếc phản. Đến bữa có người đến nấu cơm cho anh, sau đó rửa bát và đi về.

Dạo này thường có Thu đến vào trưa thứ bảy. Cô thường tự mở cổng vào và không khuấy động giấc ngủ trưa của anh. Cô thường lựa một cuốn sách nào đó, mà thường là cuốn mà anh đang đọc dở, để ngồi đọc chờ anh ngủ dậy, chờ anh nghe nhạc và nói chuyện với anh một chút khi chiều đến, rồi cô ra về. Những câu chuyện mà cô nói thường là về tình yêu, cô thường tỉ tê kể chuyện của mình và hỏi anh nghĩ sao. Anh thường bảo anh không biết và nếu Thu muốn có câu trả lời thì nên đọc một cuốn sách này này, rồi anh không quên dặn là đọc thì đọc thế thôi chứ đừng tin, bởi kẻ viết ra cuốn sách ấy chỉ biết tới thế giới của chính hắn mà thôi. Đọc một cuốn sách là để nghĩ về chuyện khác, anh thường bảo Thu vậy. Thu còn quá trẻ, gần như là một đứa bé, vẫn còn tìm kiếm nhiều điều trong những cuốn sách và những câu chuyện kể.

Anh đã hút hết hai điếu thuốc, cách quãng nhau lâu lâu, và uống hết ấm trà. Thu bỏ sách, lấy phích nước tra thêm vào  ấm trà cho anh, rồi ngồi xuống cạnh anh. Anh thích mùi hương của Thu nhưng dĩ nhiên không bao giờ nói cho cô biết.

Rồi Thu bảo anh:

– Ông ơi, cháu muốn hỏi ông một chuyện.

– Ừ, chuyện gì?

– Cuốn sách mà cháu đang đọc nó miên man quá. Nó làm cháu muốn hỏi ông. Ông đã yêu nhiều lắm đúng không?

– Nhiều.

– Rồi bây giờ ông một mình, ngày nào cũng như ngày nào, ông có thấy cô đơn không và ông có nghĩ là ông cần phải có một người ở cạnh ông không.

– Ông già rồi và bây giờ ông hài lòng khi có một mình. Sao cháu lại hỏi về sự cô đơn.

– Giang hay nói về điều đó. Anh ấy hay nói về sự cô đơn. Giang khác với những người khác. Cháu yêu Giang nhưng cháu bằng mọi cách vẫn không thể chạm vào anh ấy.

– Nó còn nhỏ mà. Thằng Giang hay thằng Tuấn đều như thế cả. Chúng đang ở cái tuổi mà mọi thằng đàn ông đều tìm kiếm sự cô đơn, như thể nếu không có nỗi cô đơn thì chúng sẽ tan vào đám đông. Chúng sẽ tìm kiếm nỗi cô đơn để hưởng thụ nó, một nỗi cô đơn không có thật chỉ là do chúng vẽ ra, còn nỗi cô đơn có thật thì sẽ êm ái đến trước khi chúng nhận ra.

– Nó, tức là nỗi cô đơn có thật ấy, sẽ đến như thế nào.

– Từ những người đàn bà, từ những người yêu chúng.

– Tại sao?

– Vì khi một người đàn bà yêu ta, cô ấy sẽ làm ta trở nên khác biệt với mọi người, khác biệt với mọi thằng khác. Và khi ấy thì nỗi cô đơn có thật bắt đầu xuất hiện.

– Yêu thì sẽ khiến cô đơn à.

– Ừ. Nó là hai mặt của đồng xu. Ví dụ khi anh yêu ba người đàn bà, thì anh sẽ có ba nỗi cô đơn khác nhau, ba sa mạc khác nhau.

– Cháu sẽ nói chuyện này với Giang.

– Nó không hiểu đâu, nó còn đang theo những nỗi cô đơn không có thật.

 

Chiều đã về. Long đã bảy mươi sáu tuổi còn Thu thì mười chín tuổi. Thu là người yêu của Giang. Giang là bạn thân của Tuấn. Tuấn là cháu nội của Long.

Khi Long chuyển về ngôi nhà bên mé sông này sống, Tuấn thường đến với anh. Rồi nó dẫn thêm thằng bạn nó là thằng Giang cùng đến. Rồi Giang lại dẫn Thu đến. Rồi Thu thường đến đây vào mỗi trưa thứ bảy, ngày nghỉ mà cô không phải quá lo nghĩ về những tiết học. Thu thường ở lại cả chiều, đọc sách, cho tới khi nắng tắt và Giang sẽ qua đón, bọn chúng sẽ chào anh, rồi líu ríu rúc rích theo nhau ngồi lên xe máy và đi.

Long thấy vui vì sự có mặt định kỳ của Thu. Hôm nay Giang bận và sẽ không đến đón Thu. Anh nghĩ anh sẽ gọi điện cho người nấu cơm, bảo không cần đến nữa, và anh sẽ bảo Thu nấu một bữa cho anh ăn.

Long đã nghe CD đến lần thứ ba. Gelber đang chơi quá hay. Chiều đang tàn dần.

Sa mạc của anh rộng ra thêm một khoảnh.

***

Tôi đã uống hết năm lon bia và gõ ra câu chuyện trên mà tôi chả biết nó nói cái gì.

Những ngày này tôi thường đi làm bằng xe buýt. Hà Nội Bát xin kính chào quý khách. Tôi nghĩ rất nhiều thứ lung tung trong những chặng xe buýt ba mươi phút mỗi ngày. Cứ đi xe buýt riết rồi tôi chẳng còn muốn mình phải trở thành một kẻ nào cả. Tôi không muốn trở thành ai cũng không muốn trở thành chính mình.

Chỗ của Độc Cô

Posted in Bịa chơi by Tequila on April 11, 2014

Từ hôm đó Độc Cô Cầu Bại không đến quán nữa. Hôm đó là hôm nào thì chịu không nhớ nổi, chỉ biết đó là một hôm mà từ hôm đó trở đi thì Độc Cô Cầu Bại không đến quán nữa.

Quán, nhất là cái chỗ của Độc Cô ngồi, vào giờ khuya mà Độc Cô ngồi, có màu xanh cứt ngựa, không đẹp như xanh cứt ngựa mà một màu nào đó gần như thế nhưng bợt hơn, nhợt nhạt hơn, chết hơn, nhôm nhoam, gần giống như một lớp rêu chết lại còn bị vương bọt bia cũ lên trên. Chỗ Độc Cô ngồi không bao giờ đủ sáng, chỉ có ánh đèn neon từ phía sâu trong quán hắt ra, từ nơi ông chủ thọt chân thường ngồi xem ti vi kiên nhẫn chờ những vị khách uống bia đêm. Khách uống đêm không có mấy ai vào trong quán ngồi, chỉ ngồi ngoài sân, tản mát các bàn cái xoay dọc cái xoay ngang tùy theo ý thích của khách, dưới gốc cây, bên bờ tường, dọc theo rãnh nước. Chỗ của Độc Cô thì cạnh cửa, sau bức tường mà Độc Cô dựa lưng vào thì là toa lét. Toa lét chỉ là vài ô gạch chật chội, vừa một người đứng, được che bằng một tấm màn vải cũng màu xanh cứt ngựa. Để đi tè thì khách phải bước tới, qua bàn Độc Cô, bước vào cửa quán, xoay người sang bên tay trái gạt tấm màn xanh ra và chui vào. Tuy nhiên chẳng có mấy thằng khách đủ lịch sự để vào đó tè, thường thì khách hay ra gốc cây phía xa, hoặc đi thêm chục bước ra thượng nguồn của rãnh nước. Nên chỗ của Độc Cô không ai khác chọn do gần toa lét, nhưng lại thơm mùi bia do mấy thằng bưng bê hay đổ bia thừa vào đó trước khi vào rót cốc mới cho khách.

Độc Cô Cầu Bại quanh năm mặc áo sơ mi trắng, quần đen và giày tây. Trời lạnh thì anh khoác thêm một cái áo len đen, lạnh nữa thì anh có thêm một cái áo da đen, đại hàn thì anh có thêm một cái khăn kẻ caro đỏ. Tất cả những thứ đồ anh khoác trên người đều là đồ rẻ tiền. Anh trạc hơn ba mươi tuổi, gầy gò. Gương mặt anh hơi dài, hơi buồn, hơi khắc khổ, mà khá nhạt nhẽo và không có gì đáng nhớ. Anh rất dễ lẫn vào trong đám đông. Nhưng nếu người ta đến quán nhiều lần, vào giờ của anh, một lúc nào đó người ta sẽ nhận ra sự có mặt quen thuộc của anh, rồi từ đó trở đi khi đến quán vào giờ của anh thì người ta sẽ đưa mắt liếc tới chỗ của anh, xác nhận sự có mặt của anh, rồi mới tìm một bàn thích hợp để ngồi.

Độc Cô thường đến quán vào lúc 10h30 , ngồi xuống bàn của anh, nhân viên quán tự động mang cho anh một đĩa lạc và một cốc bia. Anh ngồi đó, uống bia, hút Vinataba, hầu như không nhìn ai bao giờ, chỉ trầm ngâm nhìn ra phía trước, nơi phía bên kia con ngõ ngoài chuyện thỉnh thoảng có xe máy chạy qua thì chỉ có một bức tường. Độc Cô không bao giờ có bạn đến ngồi cùng, cũng không bao giờ nói câu nào với chủ quán hay nhân viên phục vụ. Anh cứ ngồi đó uống chừng ba bốn cữ bia, tới 12h đêm là đứng dậy đi về. Duy nhất có một lần, khi Hưng cùng các bạn ngồi gần bàn của Độc Cô, Hưng quan sát anh lâu quá nên có lúc bắt được ánh mắt của anh bất giác nhìn sang, Hưng cười chào anh, anh cũng hơi mỉm cười chào lại.

Dạo đó quán là tụ điểm của Hưng và các bạn. Mỗi tuần Hưng có hai trận bóng, kết thúc vào lúc 10h, anh đến quán, gặp mấy thằng bạn cũng đi tennis về cùng giờ. Uống bia tán phét với nhau đến tận khuya. Từ khi phát hiện sự có mặt của Độc Cô, anh và các bạn thường để ý quan sát Độc Cô. Cái tên Độc Cô, Độc Cô Cầu Bại, là anh và các bạn đặt cho Độc Cô theo tên một nhân vật trong truyện chưởng. Có lần Hưng bảo các bạn, tao thích anh Độc Cô, hôm nào đấy tao sẽ sang làm quen với Độc Cô. Suốt hai năm trời, từ khi nhận ra sự có mặt của Độc Cô, tới khi đội bạn uống bia muộn cứ thưa dần, thưa dần, Hưng vẫn không sang làm quen với Độc Cô, dù anh biết chắc là Độc Cô cũng biết tới sự tồn tại quen thuộc của anh do nhìn thấy nhau rất nhiều lần ở quán.

Rồi một hôm không thấy Độc Cô đâu nữa, hôm sau rồi hôm sau nữa cũng vậy. Hưng và các bạn kháo nhau, có thể Độc Cô là một tay làm xây dựng, theo một dự án nào đó đến nay đã kết thúc và đi chỗ khác. Hoặc đơn giản là hắn đã lấy vợ. Hoặc là Độc Cô không còn thích bia ở đây, bia đây vẫn lạnh nhưng dạo này có vẻ như đã bớt thơm, uống vẫn vào vào chẳng qua là do quán chịu khó để lạnh sâu. Câu chuyện chuyển sang phân tích bia. Lần khác tới, vẫn cứ bảo nhau không thấy Độc Cô đâu nhỉ, Độc Cô đã đi hẳn rồi, chắc vậy rồi. Sự vắng mặt của Độc Cô rõ ràng đã để lại một khoảng trống.

Dần dà các bạn bia khuya vắng hẳn dần, tới khi chẳng còn thằng nào. Thỉnh thoảng hứng lên gặp nhau uống bia khuya thì bọn anh lại lựa một quán khác mà các bạn anh cho rằng bia ngon hơn, mà cũng được ngồi muộn không bị công an đuổi. Duy chỉ có Hưng vẫn quay lại quán, vào giờ rất muộn, một mình. Dạo đó chỗ làm của Hưng có dự án chuyển đổi công nghệ, Hưng thường phải làm khuya, ngày nào cũng về muộn, và anh đến quán uống vài cốc bia một mình cho thư giãn rồi mới về nhà. Chỗ của Độc Cô vẫn còn đó, chỉ có Độc Cô vẫn vắng mặt.

Một ngày Hưng đến quán, vào lúc 10h30, chỗ của Độc Cô có người ngồi, nhưng là một trung niên gày còm nhếch nhác, cùng một mụ to béo không biết là nhân tình nhân ngãi hay anh em xã hội của nhau, nói tục chửi bậy tung tóe. Hưng cảm thấy khó chịu. Anh đợi cho đến khi đôi bạn già kia trả tiền đi về, thì cầm cốc bia sang chỗ của Độc Cô ngồi. Anh ngồi đúng như cách Độc Cô vẫn ngồi, cửa, rồi đến cái bàn, rồi đến anh. Anh gọi một đĩa lạc, hút thuốc, uống bia, nhìn ra phía trước.

Anh thấy hiểu Độc Cô. Anh hiểu cái cách Độc Cô Cầu Bại giơ tay trái cầm cốc bia lên, nhấp một ngụm, mắt nhìn thẳng ra phía trước. Ngồi chỗ này, nhìn thẳng ra phía trước, anh chỉ thấy bức tường, không phải nhìn thấy ai cả, không bận tâm tới ai. Ánh sáng chỉ soi tỏ cái bàn, rồi lờ mờ hắt lên anh. Anh nghe rõ những câu chuyện râm ran phía trong quán, phía ngoài quán từ các bàn dưới gốc cây, bàn bên rãnh nước. Anh cũng hiểu cái đĩnh đạc trầm ngâm của Độc Cô khi nhẹ nhàng đặt cái cốc vừa uống hết xuống bàn, đợi thằng nhân viên phục vụ tới lấy cốc và rót cho anh cốc khác, anh không nhìn nó và nó cũng không nói với anh lời nào. Anh cũng cảm thấy cái tự tin và sâu lắng của Độc Cô, khi một mình uống các cốc bia của mình, không phải nói gì với ai, cảm nhận một ngày bận rộn vừa qua, sắp xếp lại cái mớ bòng bong ấy, cái nào vào ngăn của cái ấy. Rồi anh trở nên nhẹ nhàng thanh thản, trả tiền bia rồi đi về nhà cho một giấc ngủ ngon.

Sau nhiều buổi đêm muộn ngồi ở chỗ của Độc Cô, Hưng bắt đầu nhận thấy những ánh mắt nhìn tới mình. Nhiều người khách uống bia bắt đầu nhận thấy sự có mặt quen thuộc của Hưng. Cũng như Độc Cô, Hưng không nhìn lại họ, anh chỉ ngồi uống bia và nhìn ra phía bức tường. Trong anh cảm thấy ngấm ngầm dâng lên một niềm kiêu hãnh, rất giản dị chân thật mà đúng là một niềm kiêu hãnh, khi tới quán, vào giờ của mình, ngồi vào chỗ dành riêng cho mình, không nhìn ai không có ai ngồi cùng và không nói chuyện với bất cứ ai kể cả chủ quán hay nhân viên. Đôi khi anh cảm thấy có những ánh nhìn quan sát mình, anh liếc ngang sang, bắt gặp một cái nhìn tò mò nhưng thân thiện, anh chào lại bằng một nụ cười rất nhẹ. Rồi anh bắt đầu để ý đến từng tác phong cử chỉ của mình từ lúc vào quán bia tới lúc tính tiền đi về. Mọi thứ đều cần nhẹ nhàng, điềm đạm và cân đối. Anh không ngồi ngả ngốn nữa, mà ngồi sát vào lưng ghế, hai chân đặt ngay ngắn, hơi nghiêng người chống tay lên mặt bàn hoặc thành ghế, đĩnh đạc, uống bia chậm rãi, hút thuốc chậm rãi. Như thể tất cả mọi thứ đều cần phải nghiêm cẩn như vậy khi anh đã hiểu mình là một truyền nhân của Độc Cô Cầu Bại.

Cứ như vậy, ngày lại ngày, các buổi tối muộn, anh đến quán bia ngồi vào chỗ của Độc Cô và uống theo cách của Độc Cô. Anh đã trở thành Độc Cô Cầu Bại cho đến một ngày mà dự án kết thúc, anh không phải làm muộn nữa và cũng như Độc Cô ngày nào, anh không quay lại quán nữa.

***

Sau chừng mấy năm, một ngày Hưng quay lại quán, một ngày anh cũng phải làm muộn và bỗng dưng muốn quay trở lại quán. Anh dựng xe máy xong, bước tới quán, ngó cái chỗ của Độc Cô và của anh, thì thấy có một thằng trẻ tuổi đang ngồi ngay ngắn, vẻ mặt kiêu bạc lơ mơ ngó về phía bức tường.

Hưng tặc lưỡi, chỗ của mình lại có một thằng Độc Cô mới rồi. Rồi anh bảo nhân viên quán kê cho anh cái bàn ra chỗ gốc cây, anh gác chân chữ ngũ, ngả ngốn trên cái ghế nhựa có tựa, ngửa mặt lên trời hút thuốc, uống bia. Rồi anh nhìn thấy Độc Cô, ở một bàn nơi góc khuất mé kia của quán. Chính là anh ta, Độc Cô Cầu Bại. Anh ta có vẻ già đi, vẫn áo sơ mi mặc trong cái áo len đen mỏng.

Hưng trân trối nhìn Độc Cô, rồi anh ta cũng nhìn thấy Hưng. Lần này anh ta nở một nụ cười. Hưng cười lại. Anh cầm cốc bia giơ lên, Độc Cô cũng làm như thế, dù gì cũng là người quen lâu năm gặp lại, rồi bỏ cốc xuống bàn, mỗi người nhìn đi một hướng.

Còn thằng Độc Cô số ba vẫn ngồi đó, chỗ mà Độc Cô Cầu Bại từng ngồi, chỗ mà anh từng ngồi, mắt nhìn xa xăm ra phía bức tường, vẻ kiêu hãnh, trầm ngâm, nhẹ nhàng và nghiêm cẩn trong từng cử chỉ. Như thể khi đã ngồi ở chỗ của Độc Cô Cầu Bại thì người ta sẽ cần phải và sẽ được là như thế.