Teq's Blog

Phú Quốc 2017

Posted in Những con đường by Tequila on April 2, 2017

Khi đi công tác, kiểu gì tôi cũng ở lại chơi thêm một ngày, coi như được đi du lịch miễn phí. Không còn khách khứa, đồng nghiệp, đối tác, công việc, thậm chí bạn bè cũng ít khi tôi alo hẹn gặp. Tôi dành một ngày đó cho bản thân mình. Mượn một cái xe máy, chạy lòng vòng, tiện đâu ghé uống nước ở đấy, tiện đâu ghé hàng ăn ở đấy. Thường thì ngày lang thang đó luôn để lại những dư vị, khi nhiều khi ít, nhưng luôn ngon lành.

Chiều qua tôi trả phòng khách sạn nơi đã ở mấy hôm phục vụ cho công việc. Tôi vào thị trấn tới một khách sạn khác, nơi mà dịch vụ đặt phòng trên mạng đã tự chọn cho tôi “em cứ lựa đại cho anh một cái, tương tự mức tiền như khách sạn kia là được”. Chẳng ngờ khách sạn này ngon lành hơn tôi nghĩ rất nhiều. Đó là một resort nhỏ, xinh đẹp, chắc là được xây dựng từ khi hòn đảo này bắt đầu phát triển du lịch, rồi gần đây được tu bổ lại. Những bungalow xây gạch ngói đỏ nằm sát nhau, chỉ cách một lối đi hay một ô đất bằng manh chiếu, trồng cây cỏ xanh mướt, thế nhưng không gây cảm giác chật chội tù túng. Cái bungalow của tôi, lại là cái xinh đẹp nhất, chắc vì nhỏ nhất. Nó dẹp lép như một cái bao diêm dựng đứng. Tôi rất hài lòng với chỗ ở này, vì thế sáng nay tôi không đi đâu nữa, bắc ghế ra hành lang, ngồi dưới bóng cây chuối, trước mặt là dàn dây leo, mở máy tính ra, nghe nhạc và viết một tí với đôi ba lon bia trong tủ lạnh.

***

Đã gần tròn mười năm tôi mới quay lại đảo Phú Quốc. Trong trí nhớ của tôi, hòn đảo này toàn là cây, những cỏ lau dập dềnh hai bên đường, những bụi cây lúp xúp trên cát, những vạt rừng ngập mặn, những vườn tiêu, những cánh rừng xanh ngắt trên những ngọn đồi thấp, thậm chí bãi biển cũng đầy những dây muống biển chạy lan từ bờ ra bãi cát, vừa lan ra vừa nở những bông hoa màu tím.

Lần này quay lại, Phú Quốc vẫn nhiều cây như thế nhưng người và xe còn nhiều hơn. Xe con, xe du lịch cỡ lớn, xe tải chở cát và vật liệu xây dựng chạy rầm rập. Quãng chừng giữa thị trấn Dương Đông và mũi phía Bắc, có một nơi mà tinh túy của cả đảo đổ về, nằm ngay bên đường, một núi rác to đùng mà mùi hương của nó khiến người đi qua dù đã nín thở vẫn đắng nghẹn cổ họng. Lên gần mũi Bắc là Vinpearl Land và Vinpearl Safari. Đi quá khỏi đoạn này, thì có vài cây cổ thụ rất đẹp đứng ngay cạnh đường, chắc hẳn chúng vẫn đứng đấy từ trước khi có đường. Chúng đẹp, cao quý, và ngơ ngác, như mấy cô công chúa đang trong cung cấm tự nhiên chả hiểu sao bỗng thấy mình đứng giữa chợ. Từ chỗ mấy cái cây, nhìn qua bên trái, sẽ thấy một đại công trường nơi Vincom hay một tập đoàn nào đó đang xây dựng khu nghỉ dưỡng. Cả trăm, vài trăm ngôi biệt thự đang xây nằm san sát nhau, mà từ phía xa này nhìn, tôi thấy cảnh tượng rất quen. Nghĩ thì ra, là cảnh tượng ấy tôi đã từng thấy khi mấy năm trước chạy từ Lai Châu về phía Lào Cai, cũng là hàng trăm hàng ngàn nếp nhà như thế phủ đầy một vùng đất rộng, là khu tái định cư cho người dân tộc thiểu số khi thủy điện đã dọn sạch nhà cũ của họ. Giờ nhìn khu biệt thự kiểu khu tái định cư đang xây này, tôi không hiểu nếu nó hoạt động tốt thì sẽ có bao nhiều người đổ đến đây để du lịch, và họ sẽ du lịch ở đâu. Để cho họ có chỗ mà chơi và du lịch, thì Phú Quốc sẽ cần thêm nhiều bãi biển, nhiều cánh rừng, nhiều quán nhậu, nhiều khu vui chơi. Những khu vui chơi thì người ta sẽ làm được đơn giản, nhưng còn rừng, cây, vạt san hô, và những bãi biển hoang vắng cho những anh chị chó Phú Quốc lừng danh chạy và bơi, thì lấy ở đâu ra. Mà nếu không có những thứ đó, thì cuối tuần anh em ta cứ cho trẻ con ra Time City Royal City mà chơi được rồi, chứ tốn tiền bay ra tận Phú Quốc thuê khách sạn ở làm cái khỉ gì. Nghĩ thế thôi chứ tôi không thắc mắc nhiều, những việc lớn như thế đã có lãnh đạo và doanh nghiệp lớn tư duy bằng tầm nhìn hoành tráng của họ.

Tôi dừng ở đầu mũi Bắc, nơi gọi là Gành Dầu, làm ít bia và ăn gỏi cá trích. Món gỏi rất ngon. Ráng chiều đỏ ối phủ xuống mặt biển, biến những con tàu cá trở thành những du thuyền lãng mạn mà mong gì ta được nằm trên đó gác chân uống rượu ăn mực. Những hòn đảo và mũi đất bên kia vịnh biển cũng rực đỏ lên dưới nắng. “Hồi đấy chắc ông ấy cũng xơi món mực trứng và món gỏi cá trích tuyệt luân này, mỗi tội chỉ có rượu gạo chứ không có bia Sài Gòn”. Năm 1883, mới có 21 tuổi nhưng đã kịp thất bại và dựng lại quân đội tới mấy lần, Nguyễn Ánh thua to trận ở Đồng Tuyên, tướng lĩnh chết cả, quân còn vài mống, cưỡi trâu qua sông trốn về Mỹ Tho rồi dong buồm đưa mẹ và vợ con trốn ra Phú Quốc. Trong cuộc đời chinh chiến kỳ vĩ mà thua nhiều hơn thắng của mình, Nguyễn Ánh đã mấy lần thua trận dạt về đây. Từ đây ông đã cho con trai cả của mình là Cảnh, khi ấy mới 3 tuổi đầu, theo thằng bạn tây của ông là Bá Đa Lộc, lên thuyền sang tận Paris đặt quan hệ ngoại giao và cầu viện Pháp. Hiệp ước được chính vị vua lịch sử Louis 16 ký kết. Mỗi tội Nguyễn Ánh quá đen, chưa kịp cầu viện được gì thì anh Louis 16 đã bị anh em cách mạng Pháp lật đổ và cho lên máy chém. Nhưng có lẽ nhờ những dấu ấn lịch sử như vậy, mà khi người Pháp chiếm Đông Dương, đã xác quyết Phú Quốc thuộc về quản lý hành chính của Cocchichine, sau này thuộc về VNCH, và tất nhiên giờ thuộc về CHXHCN Việt Nam. Nếu không có những sự kiện lịch sử này, giờ anh em bay ra Phú Quốc du lịch sẽ phải mang hộ chiếu đi xin Visa.

Ngược lại lịch sử thêm chút nữa, khi xưa có một anh Tàu Khựa họ Mạc tên Cửu chạy giặc Thanh mà kéo anh em tới Hà Tiên và Phú Quốc lập cơ đồ. Thoạt tiên anh Mạc Cửu theo Campuchia, xong anh bị Thái Lan đánh tơi bời mà vua Cam không cứu, anh bèn gặp chúa Nguyễn thứ sáu là Nguyễn Phúc Chu, xin làm phiên thuộc. Từ đó dưới sự hậu thuẫn của các chúa Nguyễn, con cháu họ Mạc đứng vững ở Hà Tiên, oánh nhau với Thái Lan Chân Lạp, chiếm nhiều vùng Tây Nam Bộ, cho tới khi bị nhà Tây Sơn (cũng có sự giúp sức của nhiều tướng và quân đoàn Khựa lưu vong) đánh bại. Tây Sơn thắng hay Nguyễn Ánh thắng, thì cuối cùng kiểu gì vùng đầu mút phía nam này của chữ S, vẫn thuộc về chúng ta ngày nay. Về sau nhà Tây Sơn khi chiếm được Sài Gòn Gia Định đã giết tróc hết cả cộng đồng người Hoa ở đó, đến khi Nguyễn Ánh đánh chiếm được Gia Định, họ Mạc và những người Hoa sống sót chạy trốn sang Miên đã quay về đóng góp rất nhiều tài lực giúp Ánh lập nên cơ đồ.

Cho nên dù ngày nay chúng ta ức chế và ghét Khựa thế nào, thì cũng cần hiểu rằng nếu không có những vị anh hùng Khựa lưu vong, lịch sử chúng ta đã rất khác và giờ này khéo bay đi Cần Thơ uống rượu nghe đờn ca tài tử, anh em cũng phải xin Visa.

Tôi vẫn có một câu hỏi, mà đếch dám hỏi ai bởi hễ nói ra là cả bạn bè thân cũng sẽ chửi cho, đó là câu hỏi “chúng ta thực sự ghét Khựa từ khi nào”. Có phải họ hàng nghìn năm luôn tìm cách bắt nạt chúng ta, hay chúng ta cứ nịnh họ khi họ mạnh, nhờ cậy dân lưu vong của họ khi chúng ta cần, rồi giết và đuổi họ khi chúng ta mạnh lên. Sự kiện gần nhất mới có bốn chục năm. Trong có vỏn vẹn vài trăm năm chúng ta đã chiếm cả nửa dưới của chữ S, bằng máu chứ đừng nói là văn hóa, máu của ngoại bang và máu của chính chúng ta. Còn bọn Khựa, tiên sư bọn Khựa, sau đôi nghìn năm chúng vẫn không thể làm gì ngoài di mấy cái cột mốc trên núi và dăm ba cái đảo không người ở mà thực ra cũng chả biết thế nào vì dân ta đi thuyền thúng thì giỏi chứ giong buồm ra khơi xa chắc không đủ trình với cả lười bỏ mẹ.

***

Đó là những suy nghĩ vẩn vơ chiều hôm trước, sau công việc, tôi chạy mạn Bắc đảo chơi.

Hôm qua, khi lấy phòng khách sạn mới xong, thì tôi chạy một vòng những khu dân cư sầm uất của đảo. Tôi tìm về cái resort cũ, nơi cách đây mười năm đã từng ở, có kỷ niệm đẹp của tôi. Resort ngày ngày xưa nhỏ, giá rẻ, nên tôi mới thuê, nên giờ với tốc độ phát triển ở đây thì nó càng nhỏ bé và lẻ loi hơn nhiều. Tôi không còn nhận ra căn bungalow xưa tôi ở nằm ở chỗ nào nữa. Tôi xuống bãi biển nằm lên một cái ghế và gọi lon bia, đĩa mực hấp. Kỷ niệm là chính chứ bia thì nó cho đá vụn chưa uống đã tan, mực thì vừa đắt vừa chán. Bãi biển nhỏ, khách toàn tây lông, nghe xì xồ thì biết là người xứ nào. Có mấy mẹ xề Nga và mấy thằng bụng phệ Nga nhìn nản hết cả lòng, cũng may có đôi em Pháp trẻ mi nhon tung tăng đi lại tắm biển, ráng chiều lóng lánh trên đôi bờ mông thật thơ mộng. Những muốn hỏi, “Bông dua, cô đưa mông tôi xoa?” nhưng không dám nên chỉ chat kể với đôi thằng bạn cứt đang online trên facebook.  Tôi uống đôi chai bia với kỷ niệm đẹp của mình rồi trả tiền bỏ đi. Tôi đi dọc phố, ra đến ngoài rìa thị trấn, vẫn đói bụng nên kiếm đồ ăn. Có một quán ăn vắng tanh vắng ngắt cô quạnh nằm bên đường, tôi vào. Chị chủ quán chưa kịp mừng vì có khách đã lại thất vọng sâu sắc vì khách chỉ có một người. Rồi cả buổi cũng chỉ có một người là tôi.

Tôi xơi một đĩa mực hấp, đúng cái món đang dở mồm ở resort kỷ niệm. Rồi gọi ghẹ, chị chủ quán bảo ghẹ đây chỉ bán cân thôi, em ăn một hai con chị không bán. Tôi gần như sẵng giọng, em ăn nửa cân thôi, chị chủ bèn dạ dạ rồi alo thằng con trai đang đi chơi đâu đấy bảo mua nửa cân ghẹ về mẹ bán cho khách. Tôi tự tin như thế, vì quán này có một vị trí hay, dù nó bên đường và vắng vẻ nhưng cái kiểu của nó là hay. Tôi thường tự cho rằng, hễ chỗ nào mình ngồi mà thấy ok là y rằng quán đó sau này đông khách đuổi đi không hết. Tất nhiên chỉ là tự sướng thôi, dù đúng là chỗ nào ở HN mà tôi đã chọn ngồi thì sau đó đều đông khiến tôi phải té đi chỗ khác, nhưng mà dân số HN đã tăng gấp 10 so với hồi xưa thì cái quán đếch nào còn tồn tại được chả đông nhung nhúc.

Ngồi một lúc thì mưa xuống lộp rộp, rồi tan đi. Thiêu thân trào lên bay kín đặc quanh cách bóng đèn, khiến tôi phải đổi bàn. Chị chủ quán xách ra một bình xịt to. Chị xịt khắp sân khiến vị bia mà tôi uống trở nên toàn mùi thuốc xịt côn trùng. Rồi chị lấy chổi ra quét được một vốc. Thế mà vẫn không hết, ở mảnh đất toàn bụi cỏ bên cạnh, dưới ánh sáng đèn, có thể nhìn thấy lớp lớp những con thiêu thân trào lên, hoan hỉ và mừng rỡ trong đời sống ngắn ngủi của chúng, rồi tản đi khi thấy mùi thuốc xịt. Ấy thế nhưng chỉ có khoảng 20 phút là giờ khắc của thiêu thân đã hết, không còn con nào bay lên, chúng đã xong cuộc đời của mình.

Thằng con của chị đã về, sau nhiều cuộc điện thoại. Chị vào bếp rồi mang ra cho tôi ba con ghẹ hấp, ghẹ rất ngon dù tôi phải ăn cố vì đã no bụng, và vì bia nữa, đã uống tới mấy chai to khi chờ đợi. Tôi hiểu rằng quán của chị sẽ không thể đông được, chị không phải kiểu người bán quán. Chị đã lao động và nuôi nấng con cái bằng một nghề gì đó khác, nay chắc khá giả hơn nên chị mở đại cái quán có ai vào thì vào thôi.

Chị ngồi sau bàn tôi, khoanh chân trên ghế, vui sướng tán chuyện với một chị bạn, điện thoại để trên bàn để loa ngoài, tôi chỉ nghe và bắt buộc phải nghe chị nói. Tôi cũng chẳng có gì để suy nghĩ bởi vì cả tay lẫn đầu óc đều phải để tâm vào món ghẹ, món ghẹ nói thế chứ khi ăn phải để tâm thì mới gỡ chuẩn được các lớp lang của nó, đại khái do ăn ghẹ nhiều nên tôi hiểu về phẫu thuật cơ thể ghẹ, bẻ chỗ nào gỡ thế nào đối với từng miếng, nhưng phải để tâm chứ không thì miếng ghẹ sẽ nát ngay.

– Ôi chị biết không – chị chủ quán nói với bạn qua điện thoại để trên bàn – thanh minh ấy à, nhà cha mẹ em có tới tám đứa con, mà thanh minh thì mỗi đứa sẽ mang đến một món, em đang chưa biết làm món gì đây. Mà á, mấy đứa chúng nó như là muốn dằn mặt nhau ấy, đứa nào cũng mang đến món ngon nhất, có đứa còn mang cả cân tôm hùm bộn tiền à chị. Ngày thường cãi chửi nhau suốt mà thanh minh là cứ gọi điện cho nhau vui lắm, hỏi xem nhà ai sẽ mang đến món gì để không bị trùng á.

– Ôi chị ơi, em đi biên làm ăn mãi rồi, hoang vắng một mình đêm hôm em không có sợ ma đâu, nhưng em sợ ra bãi tha ma lắm. Kể cả đi thanh minh ban ngày. Chị ơi từ khi mà ông già em mất á, em không bao giờ ra bãi tha ma nữa. Cứ nhìn thấy cái mả là em sợ phát khiếp.

– Em á, em chỉ cần một manh chiếu góc nhà là em ngủ được, nhưng mà em không bao giờ đi ở trọ. Em đi nhiều nơi rồi mà chưa bao giờ em ở trọ đâu.

– Chị ơi ở Phú Quốc này bây giờ loạn lắm, nhiều người bị lừa lắm chị ơi. Có đứa nó yêu một thằng quá, mua cả xe 7 chỗ cho thằng đó đi cho đứng tên thằng đó. Rồi thằng kia dẫn vợ con đến, khóc rồi quỳ xuống lạy luôn á chị. Nó không trả xe mà cứ lạy xin lỗi thôi, chị bảo làm thế nào.

– Ôi chị xem đấy, đời em cũng khổ nhiều rồi, giờ em cứ ở nhà mở quán bán hàng có ai vào thì mình nấu cho ăn thôi. Đàn ông ấy mà, người ta thương mình thì họ cưu mang mình, mà họ tốt thì mình cũng có thể làm lụng cưu mang họ. Nhưng mà họ phải tốt chứ, nhưng mà phải tốt chứ không thì làm sao.

Tôi gọi tính tiền, chị chủ vẫn đang điện thoại, chỉ tay sang thằng con cỡ mười mấy tuổi đang cắm đầu vào điện thoại. Tôi trả tiền xong chào chị, chị vẫn không dừng điện thoại, chỉ hoa hoa tay cười, chẳng biết là chào em nhé hay mày cút mẹ mày đi chị đang bận.

Tôi thấy quý chị chủ quán phết, quán chị chắc chắn không thể đông được với cái kiểu của chị. Nhưng biết đâu được khi mà Phú Quốc ngày càng đông và dân du lịch sẽ dần tỏa ra xa xa, sẽ tới quán của chị, và chị sẽ có đồ ăn để sẵn trong nhà mà tiếp khách chứ không phải có mỗi thằng khách đến rồi lại bảo con chạy ra chợ mua ghẹ.

Mà chỉ đôi ba câu điện thoại của chị, tôi có thể mường tượng ra cuộc đời của chị như thế nào. Cuộc đời một con người kể chi li ra thì dài như tiểu thuyết, mà kể ngắn gọn lại cũng có thể trong hai câu. Chị là người ở Rạch Giá, lớn lên bôn ba đi làm thuê nhiều nơi, rồi gặp một người đàn ông lấy làm chồng, về Phú Quốc này. Anh đi biển đánh cá, chị ở nhà chạy chợ, đẻ mấy đứa con. Giờ khá giả hơn chị mở quán ăn. Thằng con lớn học xong cấp ba chẳng nghề ngỗng gì cứ lang thang phố chợ. Ở đảo này cứ đi một đoạn là thấy biển tấm lớn cổ động “Học để biến ước mơ thành sự thực”, chứng tỏ ở đây người ta ít đi học nên mới phải tuyên truyền, giống như nhiều vùng sâu vùng xa có biển “Đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của chúng ta” do không thu được thuế. Có điều thuế thì dễ hiểu, chứ ước mơ, biến ước mơ thành sự thực nhưng trước hết cần có ước mơ. Ước mơ nào, ước mơ gì. Tôi hồi bé đã có nhiều ước mơ, rồi dần dần lớn lên tôi quy hoạch ước mơ nào dở hơi quá thì xóa, ước mơ nào dễ hơn thì giữ. Rồi với các ước mơ khả thi, tôi lại quy hoạch chúng, dần dần không còn ước mơ nào hết chỉ còn các hy vọng. Tôi nghĩ nên thay các biển cổ động kia thành, “Học để vào làm cho các resort 5 sao, kiếm nhiều tiền hơn đánh cá”.

***

Tôi ăn bữa trưa của mình ngay tại bàn này, ngoài hành lang, dưới bóng cây chuối và dăm ba sợi dây leo. Tôi vừa gọi thêm mấy lon bia . Ở cái resort nhỏ xíu này chỉ có tôi là khách ăn trưa, và do không chuẩn bị gì cả, nên họ chỉ có thể cho tôi bánh mỳ và trứng. Họ nhìn tôi ngạc nhiên và tò mò.

Còn tôi thì sau khi ngủ dậy rất muộn, ăn sáng rất muộn, đã dành thời gian buổi sáng và giờ ăn trưa để ngồi viết entry này, một entry vơ vẩn mang tính nhật ký. Nhật ký là để rất nhiều năm sau này, tôi sẽ nhớ lại hết tất cả những chuyện và những điều này, kể cả những điều tôi không đủ dài dòng để mà viết ra. Ngay cả tiếng nước từ máy điều hòa rơi nhỏ giọt trên tấm lá chuối đã hàng tiếng nay, mà giờ tôi mới để ý đến, nó cũng chứa đựng những sắc màu riêng trong buổi trưa nay.

Dưới bóng mặt trời của miền nam nhiệt đới, vào hôm trời nhiều mây nắng không quá gắt, đủ để một tán lá chuối cũng khiến cho mát mẻ, cùng với một chiếc loa nhỏ hình tròn tròn mà trong không gian tĩnh lặng này thì âm thanh của nó cũng đủ để vừa lòng những đôi tai khắt khe, năm bảy lon bia dù không quá nhiều cũng đủ để mình trở nên bay bổng xa xôi miễn là đừng có ai hỏi đến, những hơi thuốc lá đượm khói nhưng khi thả ra khỏi cuống họng thì gió sẽ khiến nó bay đi hít một hơi dài chỉ thấy mùi xanh mát của cây cỏ, tôi gột rửa tâm trí của mình trong một nghi thức huyền bí cổ đại khi cả những vị thiền sư còn chưa ra đời.

Những vị thiền sư ấy không ăn thịt chó, không gái gú, không rượu chè, không xem phim sex lẫn phim Holywood, không Mozart lẫn nhạc vàng, giao giảng cho chúng ta về cái sắc-không và tham sân si, nhưng các vị nào mà ngồi trước mặt chúng ta nói về những điều ấy thì ắt là còn sân si nhiều hơn chúng ta trong cái vòng đạo thức của các vị. Chối bỏ những dục vọng sướng khoái ắt là luôn để những điều đó trong lòng, khổ ghê.

Nguyễn Ánh ở Phú Quốc hay chị chủ quán vắng teo bán hàng ở Phú Quốc, rồi cũng chừng ấy năm cuộc đời. Nguyễn Ánh chết mất xác ở đây thì lịch sử sẽ khác và sẽ có Nguyễn Ánh khác, quán của chị sập tiệm rồi cũng có quán khác, chỉ khác chăng câu chuyện về người này có nhiều sự kiện hấp dẫn hơn người kia. Không hiểu các vị thiền sư ngồi kiết già nhập định thì thấy gì, chứ tôi ngồi một mình ở nơi xa, xa rời gia đình và cả thế giới, nhập định bằng bảy tám lon bia, tự nhiên thấy không còn cái tôi nữa và quá khứ vị lai không có gì khác nhau cả, chỉ có bia thơm trong cổ họng, gió thổi bát ngát, âm nhạc trở nên có lời, cuộc đời mình dẫu thành công hay thất bại cũng như một buổi chơi game, hy vọng hay thất vọng của tôi bất quá như con chó con đang nuôi ở nhà nó mừng hay giận.

Mới nhớ năm xưa, sau buổi thiền định hơi sâu với thằng bạn, lúc tôi còn thuê nhà ở Lạc Trung sống một mình toàn với bạn bè và bia rượu, buổi ấy sau khi nhập định với đôi chai vodka hay wishky gì đó, tôi về lên blog tuyên bố một câu mà tất nhiên không có like nào, đại loại rằng, “nếu mà chúng ta không còn xúc động khi thấy một chiếc lá rơi trên mặt hồ, thì cuộc đời này chẳng còn gì để xúc động nữa cả”.

Chợt nhớ đôi cặp mông chiều qua trên bãi biển. Cha ông các em từng làm chủ nơi này và có thể cho đến ngày nay khi tới đây các em vẫn lưu trong mình một tiềm thức sâu xa của những người chinh phục và bọn anh đây vẫn lưu giữ những tiềm thức sâu xa về những cặp mông mẫu quốc. Ngay cả anh đây, trong bộ dạng xe ôm tới resort, bọn Cochichine chúng vẫn lịch sự ra hỏi đại loại anh đến đây làm gì, anh uống bia ngắm biển chú ạ. Bọn chúng vẫn nghi ngại cho tới khi anh vứt áo cởi trần nằm dài trên ghế chúng mới tin anh đúng là khách du lịch, chúng bèn hỏi anh sẽ thanh toán bằng thẻ đúng không ạ, anh bảo thanh toán cái đéo gì chả được. Anh ngắm ráng chiều đỏ ối phản chiếu trên đôi mông ướt nước và lấm cát của các em, thông cảm với đôi thằng Nga lợn đang ôm con vui đùa trong sự giám sát của vợ chúng mặc dù anh biết rõ chúng ước gì được như anh nằm thoải mái uống bia ngắm hoàng hôn buông trên mông.

Và tới giờ đi ra sân bay rồi. Một buổi sáng trưa đẹp đẽ của Phú Quốc đã lặn. Về thôi.

Tìm bạn trên rẻo cao

Posted in Những con đường by Tequila on September 19, 2016

Hà Giang lần thứ hai trong năm nay. Tôi vốn không định đi đâu giờ này, công việc đang gặp rắc rối không nhỏ, mất ăn mất ngủ, lo lắng khôn nguôi, muốn định tâm mà suy nghĩ cũng không được vì đã nghĩ quá nhiều chẳng có gì để nghĩ thêm, những việc cần xử lý thì lại phải đợi đến thời điểm mà cũng chẳng phụ thuộc vào mình. Bó gối ngồi nhà chờ đợi cũng không được, vì nỗi lo lắng lớn quá đến nỗi chơi game cũng không ngon chuột phím. Thế nên quyết định gia nhập đoàn đi chơi Hà Giang này.

Đi chơi Hà Giang mà bằng một cái xe ô tô bảy chỗ, là một điểm trừ lớn đối với tôi. Leo lên xe ô tô mà mình không phải thằng lái, thì chỉ vài phút là tôi ngủ. Chuyến đi sẽ là, lên xe, ngủ, đến điểm dừng ngắm cảnh, xuống ngắm cảnh, lại lên xe, ngủ. Cứ thế cho đến hết lịch trình, và sự thể diễn ra đúng như thế. Nhưng không sao, vẫn vui.

Đội này, ngoài tôi và anh lái xe thuê ra thì có 3 anh già. Chắc chẳng phạm gì mà không ghi tên thật của các anh. Anh Hùng hơn tôi cả chục tuổi,  là bạn lâu năm của tôi, chơi từ thời còn ở bên Nga, không quá thân thiết vì vài năm mới gặp cafe một lần, nhưng cũng đủ quý nhau để làm một chuyến đi chơi cùng nhau. Anh Ba là bạn học thuở bé của anh Hùng, hai anh đi học cùng nhau ở phố phường Hà Nội. Còn một anh nữa, lớn hơn anh Hùng anh Ba vài tuổi, tên là Văn, là anh em thân thiết của hai anh. Các anh là bạn thân thiết của nhau, còn tôi là một chú em đi cùng. Các anh lo hết mọi việc, tôi chỉ việc leo lên xe, ngủ, uống rượu với các anh mỗi khi đến bữa ăn. Chẳng suy nghĩ gì, con đường xa xôi cũng khiến tôi gạt được những lo lắng sang một bên, kệ mẹ, tính sau, let it be John bảo thế, ngày mai là một ngày mới Scarlett bảo thế.

Đèo dốc cảnh vật Hà Giang thì không cần phải tả nữa. Lại đi trúng lúc lúa chín, ruộng bậc thang óng ả như lụa, ngắm rất đã mắt. Cảnh rất đẹp, thỏa mãn chuyến đi. Nhưng câu chuyện về những người bạn thơ ấu gặp nhau mới là chuyện vui của chuyến đi này.

***

Những thằng bạn thuở ấu thơ khác với những thằng bạn sau này lớn lên mới kết, thằng bạn ấu thơ có thể không còn thân nữa nhưng vẫn khiến chúng ta có cảm giác trìu mến khi nghĩ tới, như cách mà chúng ta vẫn trìu mến bản thân mình khi nhớ về những năm thơ bé. Như mấy tuần trước, con xe cổ lỗ của ông già bị chết máy giữa đường vắng trên Yên Bái, tôi đã alo cho thằng bạn hàng xóm và được nó tư vấn tận tình để sửa xe, dù mỗi khi có nhìn thấy nhau thì chúng tôi cũng chẳng biết nói gì với nhau ngoài câu chào và hỏi thăm khỏe chứ. Chuyến đi Hà Giang lần này, ngoài đi chơi, thì anh Ba có một ý định là tìm lại thằng bạn, đã 30 năm không gặp và mất liên lạc gần 20 năm.

Trong bữa cơm trưa, anh Ba bày tỏ ý định này. Anh Văn, anh lớn nhất trong đoàn, cùng với chòm râu đẹp của mình, kể cho mọi người nghe một câu chuyện tìm bạn. Chuyện như sau:

Chuyện thằng K và bạn nó.

Lần ấy bọn anh cùng vài thằng nữa có công việc trong miền Tây, thằng K nói có bạn ở chỗ này chỗ này, tiện đường anh em đi ngang, nên muốn tìm thăm bạn. Thằng K và thằng bạn nó dân Nam Định, hai thằng chơi thân hồi bé, K nhà bình thường nhưng thằng bạn là con nhà giàu, rất giàu. Sau này lớn lên K lên Hà Nội học, không gặp thằng bạn nữa, nhưng vẫn có số điện thoại thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi nhau. Theo những gì nói chuyện qua điện thoại, thì thằng bạn rất ổn, vào trong miền Tây lập nghiệp, lấy vợ đẻ con, cuộc sống không quá giàu sang nhưng ổn định sung túc. K gọi điện cho bạn, hẹn sẽ qua chơi, thằng bạn hẹn sẽ đón ở bên đường.

Đến điểm hẹn, bên đường cái, K xuống xe nhưng không thấy bạn đâu, chỉ có hai ba anh lao động đứng bên kia đường trông vất vả khắc khổ. K rút điện thoại gọi, một anh lao động cũng rút điện thoại ra, nhận ra nhau qua số điện thoại chứ nhìn mặt chẳng còn nhận ra bạn mình. Thằng bạn dẫn anh em đi tới nhà nó. Từ đường cái, rẽ vào một con đường nhỏ hơn, rồi rẽ vào một đường nhỏ hơn nữa, nhỏ hơn nữa… cho tới khi đến trước một mái nhà. Thằng bạn mời anh em vào nhà, nhà giống một cái lán nát hơn là nhà, ngoài ba bốn cái ghế thì chẳng có đồ đạc gì cả, uống chén nước suông rồi hỏi thăm qua loa đôi câu, K cảm thấy bất tiện nên cáo là anh em còn có việc bận, đến biết nhà được rồi, đằng nào giờ vợ con thằng bạn cũng không có nhà, hẹn chiều nay ra quán ăn nhậu cùng cả gia đình thằng bạn. Thằng bạn nhận lời.

Chiều anh em tới đón, thằng bạn ăn mặc sạch sẽ, vợ nó mặc đồ rẻ tiền thôi nhưng diện như đi hội, hai đứa con cũng mặc áo mới. K bảo thằng bạn dẫn ra quán nhậu nào ngon, chuẩn. Thằng bạn dẫn tới một cái vỉa hè, dăm ba cái ghế đẩu, quán nhậu cỏ thợ thuyền. Anh em bảo, không được, hôm nay lâu ngày hội ngộ, phải đi nhà hàng.

Hình như vợ thằng bạn chưa được đi nhà hàng bao giờ, dù nhà hàng cũng không phải quá sang trọng gì cả. Con vợ nó ngồi, lấy bát đũa lau cho anh em, tay cứ run lẩy bẩy. Hai đứa trẻ con mắt tròn mắt dẹt nhưng giữ phép ngoan ngoãn ngồi yên. Bọn anh biết ý, vẫy nhà hàng bảo mang ngay ra hai cái đùi gà trước để cho trẻ con ăn đỡ đói. Đùi gà được mang ra. Hai đứa trẻ ngồi phăng phắc như đóng đinh trên ghế. Bố mẹ chúng cũng vậy. Bọn anh bèn đưa đùi gà cho chúng, ra lệnh, ăn đi, nhanh! Thế là chúng ăn, các em có tưởng tượng được không, như trong phim ấy, hai đứa bé cầm ngang cái đùi gà của mình, gầm gừ gặm soàm soạp như hai con sói con bị bỏ đói.

Bấy giờ thằng bạn thằng K ngồi nhìn hai con ăn thịt gà, rồi không màu mè thể diện hão nữa, vừa uống rượu với anh em vừa kể lể lại chặng đường lưu lạc, làm sao mà từ con nhà giàu có lại phiêu bạt đến đây, cuộc sống vất vả ra sao, nghèo túng thế nào, bế tắc làm sao.

Cuối tiệc, chia tay, K và bọn anh gửi cho vợ chồng thằng bạn ít tiền trong phong bì, để gọi là cho các cháu. Thằng bạn nhận. Hai thằng hẹn nhau tiếp tục giữ liên lạc rồi có gì còn san sẻ chăm sóc nhau phần nào.

Đấy là chuyện đi tìm cố nhân mà anh đã chứng kiến. Chú Ba có thường liên hệ với bạn không, có khi qua điện thoại thì tưởng nhau ổn lắm, mà khi gặp mới rõ được các chú ạ.

Nghe chuyện xong, anh Ba nói, em mất liên lạc với thằng Vinh này lâu lắm rồi, nhưng qua người quen kể qua thì biết là nó vẫn đang ở Hà Giang này, làm nghề chạy xe tải. Cuộc sống chắc cũng vất vả. Hà Giang nhỏ lắm, nhất là những người sống ở đây lâu năm, chắc dễ tìm thôi.

Lát sau rượu ngà ngà say, anh Ba ra đầu quán hỏi mấy người đàn ông ở đấy, có biết Vinh thế này thế này nhà ở dốc Mã Tim không. Có anh trả lời không, anh Ba đang phê phê, lại đang máu tìm bạn quá, bèn quát “Thế là thế nào, ông bảo ông ở Hà Giang từ bé mà không biết thằng Vinh là thế đéo nào, ông có bị làm sao không đấy!”. Cứ như thể cả thiên hạ phải có trách nhiệm biết bạn Vinh của anh, may ông kia cũng hiền không bật lại gì. Anh Ba bèn ra cửa quán, gọi xe ôm, yêu cầu đi một vòng Hà Giang tìm cho tôi số điện thoại thằng Vinh. May quá, anh chủ quán nghe chuyện, biết tới nhân vật đang nói, bèn nhận tìm hộ và một lúc sau đã đưa được số điện thoại của anh Vinh cho anh Ba. Hai anh alo cho nhau, “tao Ba đây, khỏe chứ, Ba nào Ba nào cái gì, thằng Ba đen đây…” Cuối cùng sau một hồi hai anh cũng nhận ra nhau thằng nào là thằng nào, và hẹn nhau tối mai gặp ở Đồng Văn uống rượu, vì anh Vinh đang chạy xe tải mãi trên Mèo Vạc.

– Thế là tìm được đúng người rồi chứ gì? Anh Văn hỏi.

– Vâng – anh Ba trả lời – đúng thằng bạn em rồi. Nó đang chạy xe tải ở tít đâu gần biên giới cách Mèo Vạc tới mấy chục cây.

– Uh, anh Văn bảo, rút kinh nghiệm chuyện nãy anh kể, trao đổi qua điện thoại không biết đâu phải gặp mới biết được.

– Em nghĩ nó cũng sống ổn thôi, nhưng chắc vất vả.

– Anh lại nghĩ mai mình phải mời bạn em ở cái quán nào đàng hoàng. Không thằng Vinh đấy nó thấy anh em nhếch nhác nó lại rút ví bo cho anh em mỗi thằng một triệu cầm về thì bỏ mẹ. Hê hê.

– Hê hê.

***

Năm 1987, nghỉ hè hết phổ thông, thanh niên trẻ trâu dân phố cổ Hà Nội mười bảy tuổi tên Ba khăn gói lên Hà Giang thăm bạn. Bạn của Ba tên là Vinh, hai thằng là hàng xóm bạn nối khố, gia đình cũng chơi thân với nhau. Mẹ của Vinh mất sớm, bố của Vinh nuôi chị gái và Vinh được mấy năm thì bắt đầu đi làm ăn xa, rồi cưới một người vợ thứ hai ở mãi trên Hà Giang, đẻ ra một đứa con gái nhỏ, rồi đón các con lên. Hai gia đình thân nhau nên cha của Vinh vẫn giữ liên lạc và có một đôi lần Vinh cũng được về Hà Nội chơi với Ba.

Năm ấy Ba đón xe lên Hà Giang, đi lâu lắm mới tới. Vinh nghèo chẳng có tiền. Ba có ít tiền dặn lưng, hai thằng ăn uống rượu chè lung tung beng một hai tuần, tới khi hết tiền thì Vinh lại dẫn Ba đi nhậu chịu. Ngày cuối, hết quán cho nhậu chịu, hết cả tiền mua vé về Hà Nội. Ba cởi cái áo khoác được coi là sành điệu hồi đó, nhờ Vinh dẫn đi bán, đủ tiền mua vé xe khách về nhà.

Sau đó, thỉnh thoảng vẫn gọi điện thoại bàn hỏi thăm nhau. Tới năm 99, 2000, cả hai thằng đều lấy vợ, có gọi điện thoại bàn báo tin chúc mừng nhau. Rồi dần dần điện thoại bàn không ai dùng nữa, điện thoại di động thì không cập nhật, ai cũng bận rộn vợ con mưu sinh, mười sáu mười bảy năm rồi mất liên lạc. Một hai lần đi ngang qua Hà Giang, Ba có ghé qua dốc Mã Tim hỏi thăm bạn, nhưng không liên lạc được.

***

Năm 2016, tháng Chín, lúa đang ngả từ xanh sang vàng óng trên các triền đất nhỏ hẹp rải rác trên cao nguyên đá Hà Giang, thủy điện Nho Quế đã xây được khá khá, từ đỉnh đèo có thể ngắm nhìn rõ con ngáo ộp bê tông này và có thể tưởng tượng khi nó xong thì nó giết tươi con sông Nho Quế dịu dàng tội nghiệp như thế nào… Vinh đang chở hàng ở một điểm chất ngất trên đỉnh núi đối diện với đèo Mã Pí Lèng, mà từ đập thủy điện đi lên đó phải hơn bốn mươi km. Mãi đến 10h đêm Vinh mới về tới Đồng Văn, tới quán rượu bên đường, gặp thằng bạn cũ là thằng Ba và mấy thằng bạn của Ba.

Vinh cao lớn dềnh dàng, tấm lưng gù gù như gấu, hai cánh tay như hai cái càng cua lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như đang vặn vô lăng, mắt lá răm lúc nào cũng như cười, miệng hơi méo dùng để cười cũng rất dễ thương mà nếu dùng để chửi nhau chắc chắn cũng sẽ rất ấn tượng. Vinh vào quán, bắt tay Ba và anh em, ngồi xuống uống rượu, từ tốn thăm hỏi, kiệm lợi, cười là chính, như thể không phải mấy chục năm mà mới chỉ mấy chục ngày gặp lại nhau.

Chúng tôi uống với Vinh và Ba vài chén rượu, làm quen với Vinh, rồi để đôi bạn rủ rỉ tâm sự uống với nhau, anh em chuyển qua uống rượu chém gió với ông chủ quán nhậu, bày tỏ niềm hâm mộ với ông chủ quán 50 tuổi mới lấy cô vợ 23 tuổi cực trắng trẻo xinh xắn. Rồi rút đàn ra hát hỏng từ nhạc rock cho tới nhạc vàng, um cả khu phố Đồng Văn vốn đã mất hẳn cái vắng vẻ của phố núi mà thay vào đó là sự xô bồ.

Say sưa, anh em kéo nhau về khách sạn, chân nam đá chân xiêu. Vinh và Ba khoác vai nhau gục gặc đi trước, tới khách sạn, hai anh thuê thêm một phòng riêng nữa để khỏi phiền anh em, tiếp tục ngồi hàn huyên cho đã những câu chuyện xuyên từ kỷ niệm Hà Nội 198x cho tới thời thanh niên vất vả và thời trung niên bây giờ. Sáng, anh Vinh lên xe tải đi sớm, về Hà Giang. Chúng tôi tiếp tục lịch trình như đã định và hẹn ăn tối ở Hà Giang cùng gia đình anh Vinh.

***

Chiều tối, hết chuyến du lịch qua các điểm đẹp của Hà Giang, tôi nằm như con tôm ngủ được vài giấc ở băng sau, thỉnh thoảng dậy ngắm cảnh với các anh già, thì tới thành phố và vào thăm nhà anh Vinh.

Chào nhau chưa dứt lời, anh Vinh ngoắc thằng con trai mười sáu tuổi của mình, thằng con giai hai tay xác ra hai can rượu to đùng mỗi can 20 lít. Anh Văn nói với anh em, bỏ mẹ rồi, bạn thằng Ba tưởng anh em là bợm nhậu, thương quá nên cho cả đống rượu thế kia. Lát sau anh Văn lại nói, bỏ mẹ rồi, anh đã bảo mà, qua điện thoại không thể biết được đâu, cứ phải tới nhà mới biết. Thì ra anh Vinh nhà mặt phố, đất to đùng, đang xây một cái nhà mấy tầng phía trong, phía ngoài chỉ để đậu xe tải.

Anh Vinh mời đoàn chúng tôi đi nhậu thịt dê, lại uống rượu, rượu hơi nồng và tôi uống cầm chừng không vào lắm. Nhưng hai anh bạn già kia, anh Vinh và anh Ba, vẫn uống thùm thụp. Như thể nói bao nhiêu lời cũng không đủ mà chỉ có rượu mới tải được nỗi niềm cố nhân nhiều năm gặp lại. Chị anh Vinh cũng tới quán để gặp anh Ba, em gái anh Vinh cũng tới quán để gặp anh Ba, họ vẫn thân tình như anh chị em trong nhà dù sau biết bao năm xa cách. Đường còn xa, nên nhậu không kịp say, phải chia tay để còn đi 320km về Hà Nội kịp trước nửa đêm.

***

Đấy là chuyện của anh Ba gặp lại bạn cũ của mình là anh Vinh. Chuyện chẳng có gì mà thấy lòng rất vui.

Trong cuộc rượu ở Đồng Văn, vodka thì quá ngon mà hứng khởi vì câu chuyện anh Văn kể, trong chuyến đi Mỹ khi gần hết tiền rồi anh đã dốc cạn túi mua vé trực thăng đi thăm hẻm vực Grand Canyon, tôi đã thổ lộ ước mơ được một lần chạy xe xuyên Mỹ trên route 66 huyền thoại của Jack Keroac, thổ lộ với anh Hùng ước mơ được một lần đi xuyên Siberi dọc từ Tây sang Đông nước Nga. Ôi giời, quên bố mất là mình đang gặp phải khó khăn như thế nào. Quên bố mất là khả năng tèo con mèo là rất cao, và cần nghĩ tới việc nếu có gì thì lên Sapa chăn lợn với con anh Chư.

Biết đâu được, Let it be John bảo thế, mà ngày mai lại là một ngày khác Scarlett nói rồi, cuộc sống là một hành trình mà dẫu thông minh hay ngu ngốc tốt đẹp hay khổ sở thì niềm vui đều là ở trên đường cả, lo làm gì về kết quả. Tôi đã sẵn sàng với thất bại nếu nó xảy ra, bởi vì trên Mèo Vạc chợ phiên bọn nó vẫn quây quần vui tươi với mỗi một chai rượu, vì trên rẻo cao đối diện Mã Pí Lèng anh Vinh vẫn coi chặng được 150km về Hà Giang không khác gì đi từ Thụy Khuê về Hàng Đào, vì anh Ba thì vẫn luôn tin rằng cả cái Hà Giang rộng lớn này thằng nào cũng có trách nhiệm phải biết tới thằng bạn ấu thơ của anh.

Đường lên Lũng Cú gặp đúng lúc lúa vàng đẹp quá. Mấy ông kia chụp được bao nhiêu ảnh đẹp, mình trình còi nên chỉ làm cái đánh dấu mà thôi.

ruong Lung Cu

Sapa ngày tết

Posted in Những con đường by Tequila on February 14, 2016

Lũ trẻ trai H’mong có một trò chơi thú vị. Mùa này nước cạn, những mô đá nổi lên lổn nhổn giữa lòng con suối. Lũ trẻ lấy những viên đá xếp lên những mô đá nổi ấy, viên to ở dưới, viên nhỏ ở trên, ba bốn tầng như thế, thành một bức tượng người. Chốc lát đã có cả chục bức tượng nhỏ nhỏ xinh xinh như những ông bụt nhỏ cao chừng gang tay, rải rác giữa suối. Song các ông bụt nhỏ không tồn tại được lâu. Bọn trẻ đứng xếp hàng bên bờ suối, nhặt sỏi và thi ném, mục tiêu là các bức tượng. Thằng con tôi phấn khích xem trò chơi của các anh, rồi cũng bò ra một tảng đá, rồi trượt chân tụt xuống, ướt hết quần dưới làn nước buốt mà nó không kêu lạnh. Mẹ nó ra lệnh tự xử lý, cu cậu lếch thếch quần ướt, bò lên dốc, một mình lọ mọ trèo qua các thửa ruộng bậc thang mùa này còn khô cong chưa đổ nước, để lên nhà Chư mượn quần anh Lù mặc tạm. Tôi rút điện thoại định chụp cho nó một tấm ảnh, nhưng không thành công, độ phân giải của cái điện thoại quá yếu, lên hình chỉ thấy màu xanh của trời và màu vàng úa lờ nhờ của cây cối.

Sau đợt băng tuyết, lên bản thấy đâu đâu cũng là màu vàng tàn úa. Đến tre trúc cũng chết rồi khô queo đi dưới nắng. Chỉ có hoa đào là vẫn nở, đào nở khắp nơi, nhưng màu hồng đỏ của hoa đào không nổi bật lên được trên cái nền vàng vọt của cây cối xung quanh. Dường như nhà nào cũng bị thiệt hại, không ít thì nhiều. Thảo quả chết sạch, đã ba năm nay năm nào cũng có tuyết rồi, chẳng thu hoạch được vụ nào. Nhà anh Pho chết mất con trâu mẹ, may hai con trâu con lại qua được đợt rét. Nhà thằng Rồng cũng bị chết một con trâu. Những con trâu trưởng thành có giá trên bốn mươi triệu, bị chết rét xẻ thịt mang ra Sapa bán gấp, chỉ được mười lăm triệu. Anh Chư ngồi xe máy cùng thằng nào ấy đi làm lượn qua đèo Ô Quy Hồ, chả may bị một thằng ô tô không rõ là say rượu hay vì băng trơn, tông cho gãy chân. Chàng đã di chuyển được, không dùng nạng bệnh viện cấp mà chống bằng một cây tre. Khi uống rượu chàng chỉ uống một chén đầu, sau đó là uống Fanta.

Tôi ngồi trước hiên nhà, trời nắng hanh và gió mạnh như bão, thổi lồng lộng từ phía Thác Bạc xuống dọc suốt thung lũng. Nhà cửa lâu chẳng được chăm sóc, ngoài sân dê lợn phá tung tóe. Tết này chỉ lên có hai ngày, chứ nếu không cũng phải bỏ công ra dọn dẹp che chắn lại. Hy vọng thời gian tới kinh tế miền xuôi ấm áp hơn một chút để tiếp tục những gì còn đang dang dở. Mấy năm đã qua, bọn trẻ đang lớn dần lên, chúng coi bản như là nhà của chúng, cho chúng mặc đồ H’mong là trông y hệt những đứa trẻ khác. Tôi thì có thêm một cộng đồng và một gia đình lớn hiền hòa mà mình là người trong nhà.

Ở phía trên kia, đỉnh Fansipan tròn tròn bớt đi vẻ tôn nghiêm trầm tĩnh đơn độc. Nó đã có bạn là một cái cục bê tông vuông vuông. Mấy sợi tơ nhện treo ngang lưng trời. Dăm ba con nhện nhỏ treo mình bò bò trên mấy sợi tơ, là các cabin chứa được hai mươi người, những ngày này kín khách.

***

Những năm trước để lên được tới bản, tôi thường xuất phát từ 8h tối, dọc theo quốc lộ 32C qua cầu Trung Hòa lên tới Yên Bái thì nghỉ đêm, sáng sau lại đi, tới trưa thì vào bản. Chặng đường thân quen đó dài dằng dặc nhưng cũng có  nhiều thú vị. Nay thì có cao tốc rồi. Xe chui vào cao tốc như chui vào cái ống ở công viên nước, hút tụt một phát lên thẳng tới Sapa.

Vì thế mà Sapa đông nghẹt người. Tất cả các vỉa dè lề đường vốn là chỗ người dân tộc bày bán măng rau, thổ cẩm… thì nay xe biển 29-30 đậu san sát chiếm lĩnh hết. Cả trung tâm thị trấn là một quán cơm bình dân khổng lồ. Chen giữa đám người nhộn nhạo ấy, vài anh tây chị tây đi lại ngơ ngác, tay cầm cuốn Vietnam mà chả hiểu mình đang đi lạc ở giữa chợ Đồng Xuân hay là bến xe Giáp Bát. Ban ngày tắc đường từ công viên xuống tới tận Cát Cát, buổi tối ồn ào ý ới tiếng gọi đồ ăn xen tiếng chửi tục. Dọc đèo Ô Quy Hồ, chỗ nào có view đẹp là chỗ ấy có hàng quán và dăm bảy chiếc xe biển 30, xịn có ghẻ có, đậu ken nhau nép bên đường, chờ đợi các du khách lăm lăm máy ảnh và điện thoại huých vai nhau để có tấm ảnh post facebook Sapa mộng mơ.

Sapa, cô gái mơ mộng tóc dài mượt óng với ánh mắt long lanh và nụ cười dịu dàng ngày nào, giờ đã trát phấn quết son, khoác lên mình chiếc áo thun hở cổ có màu cháo lòng, tiếng nói chao chát, tay dao tay thớt, làm bà chủ quán cơm cạnh bến xe đường dài. Em phải kiếm tiền thôi, bố em bảo thế, ai bảo người ta đặt bến xe cạnh nhà em làm gì. Người ta làm thơ về em nhiều rồi, giờ đến lúc người ta nên đến ăn cơm suất và trả tiền cho em.

Sự thể gì diễn ra, bao giờ cũng có lý của nó. Đã mấy lần tôi định viết bài chửi cái cáp treo, nhưng lại thôi vì như thế khác gì chửi nhau với TV. Tất cả các hoa hậu đều thích du lịch, và mọi người dân cũng thế. Họ phải có chỗ để đi, và sẽ đi đến tất cả những chỗ nào có cái gì đó để xem. Cái thị trấn Sapa này buộc phải phình ra, loang lổ, tạp nham nhộn nhạo, để có thể làm cái dạ dày khổng lồ tiêu hóa cho được đám người đàn đàn lũ lũ này. Giống như Hội An phải tiến hóa và lòe loẹt hóa nhộn nhạo hóa để tiêu hóa hàng đống người trôi qua nó mỗi ngày. Giống như Hà Giang phải thêm nhiều bê tông để tiêu hóa bọn phượt thủ. Nhu cầu của số đông sẽ cần có những thứ phục vụ số đông.

Thế nên dẫu có nhớ tiếc đi nữa, thì đứng trước sự thật cách tốt nhất là chấp nhận nó. Người ta đã trảy hội Chùa Hương được thì ắt cũng có thể trảy hội cái chùa gì mới xây trên đỉnh Fans.

Tôi đã hết bực mình vì cái công trình cáp treo. Kệ cha nó thôi. Đằng nào tôi cũng leo Fans hai lần rồi, lần sau cũng có thể sẽ bỏ tiền mua vé leo bằng đường tơ nhện xem sao. Đằng nào có cáp treo rồi thì vẫn có nhiều người leo đường bộ, vừa đi vừa chụp ảnh và xả rác. Chừng nào số đông vẫn còn cái thói vừa đi vừa xả rác, ném vỏ hộp và túi nôn ra khỏi cửa xe ô tô, vừa đi xe máy vừa nghiêng đầu nhổ bọt, thì chẳng nên chê bai cái cáp treo làm gì.

***

Tôi hỏi Câu:

– Sapa giờ đông thế này, cháu thích hay không thích?

– Không thích, đông quá nhìn hoa hết cả mắt.

Sapa nay đã là cái bến xe và quán ăn. Tà Phìn đã tan hoang. Cát Cát thì chả thèm vào nên chẳng biết giờ nó như thế nào. Sín Chải, thì nghe nói cũng sắp có đường ô tô đi xuyên qua, thẳng từ Ô Quy Hồ xuống. Anh em H’mong ngày càng nhiều người chuyển nhà lên ở sâu trên Đầu Dù. Người H’mong tiếp tục bị người Kinh đẩy lùi sâu vào núi, như cha ông họ thuở trước.

Có lẽ tôi cũng sẽ du canh du cư như họ. Kiếm một ô đất chiếu manh khác trong núi, chuyển nhà lên đó.