Teq's Blog

Linh tinh 27/7/2017

Posted in Linh tinh by Tequila on July 27, 2017

Facebook khiến cho mọi thứ dễ dàng trở nên tiêu cực và mọi người chỉ cắm đầu vào những tin xấu mà không thấy rằng tin xấu thì luôn có mà tin tốt thì cũng chẳng tốt đẹp gì. Bọn Nga vs bọn Mỹ, em Nga vs anh Mỹ, Đồng Tâm sai lòi vs chính quyền sai lòi, châu Âu nhân đạo vs châu Âu bản sắc, Việt Nam hòa bình vs Việt Nam đầu gấu quyết không chịu nhục, Voọc Sơn Trà vs Voọc du lịch, Formosa làm thép vs thuyền thúng đói nghèo, dân chủ lưu manh vs quan chủ lưu manh, dân phòng vs hàng rong, ô vs áo mưa…. toàn thứ nhảm nhí.

Loài người là một loài mà Chúa đã bảo là chúng mày toàn tội lỗi hư hỏng đến ngày bố sẽ phán xét hết, Phật thì đã bảo là chúng mày nên ngồi xuống đợi cuộc đời qua đi sống làm cái gì.

Cách đây 100 năm loài người có 1, 5 tỷ và bây giờ là hơn 7 tỷ. Mà đó là một trăm năm người ta giết nhau ác liệt vô cùng so với cả ngàn năm trước đó. Sự tăng trưởng này tự thân nó là tai họa. Nhân đạo và hòa bình đồng nghĩa với sự tăng trưởng khủng khiếp về số lượng nhân mạng, đồng nghĩa với tàn phá thiên nhiên và khai thác cạn kiệt năng lượng. Tiền đâu mà nuôi cả một đống chúng mày. Một thằng Bắc Âu xứ thiên đường tiêu tốn không biết bao tài nguyên mà vì thế bao nhiêu số phận phải khổ ải rên xiết ở những vùng đất khác. Một châu Âu cổ súy văn minh và nhân đạo, sau khi đã giết chóc và tàn phá cả thế giới mấy trăm năm, nay vướng vào cái bẫy nhân đạo của chính mình, bọn chúng hoặc phải chấp nhận nhìn đất tổ tiên tràn ngập giống loài ngoại lai, hoặc phải tổ chức những cuộc thánh chiến kiểu mới. Bọn da trắng luôn đánh giết lẫn nhau và đánh giết thế giới, nay không lẽ gì bọn chúng lại không tiếp tục. Bọn Tàu sau vài thế kỷ bị phương tây bắt nạt, nay chúng đã trỗi dậy trở lại thành một đế quốc, những năm tháng lẹt đẹt mà chúng còn đẻ ra vô số China Town trên toàn thế giới, nay không lẽ gì chúng lại không làm tất cả để trở nên một Đại China Town trung tâm địa cầu. Mấy thằng láng giếng phọt phẹt hãy lựa chọn, theo làm chư hầu hoặc khởi nghĩa. Đại Việt oai hùng không hề có đóng góp gì cho văn minh nhân loại, nhưng tồn tại bằng cách đẻ khỏe và oánh nhau tít mít, không tiến được phương bắc thì tiến về phương nam, nay chẳng còn phương nam nào mà tiến nữa, tự nhiên bâng khuâng trăn trở chả biết đi đường nào.

Thế mà lên mạng thì đọc toàn những thứ băn khoăn rởm rít. Chả có gì băn khoăn cả. Tiền vẫn phải kiếm, cơm vẫn phải ăn, internet vẫn phải dùng, con cái vẫn phải cho học tiếng Anh và học trường điểm, bỏ đôi nghìn đô xin cho con vào trường rồi chửi cô hiệu trưởng ăn tiền cho bõ tức. Bảo vệ cây cối nhưng cứ hở ra có mảnh đất manh chiếu nào là phi vào mua dựng nhà dựng đất cắm dùi bất kể xung quanh không có cái cây nào. Kêu ca không khí ô nhiễm nhưng nhà ai cũng đôi ba cái xe cả ô tô cả xe máy. Chửi bới tiêu cực nhưng quán chè đá nào cũng có sẵn phong bì để bán do nhu cầu là rất nhiều. Kêu ca môi trường nhưng chẳng còn mẹ nào xách làn đi chợ cả, tuyền túi nilon. Chửi bọn bắt nạt Voọc nhưng du lịch Đà Nẵng luôn là lựa chọn số một do đất ấy núi biển đẹp quá đi, lại còn rẻ, tỉ lệ đất ấy cỡ nghìn voọc du lịch vs một voọc chà vá xịn, tính nào thì tính. Chửi nhiệt điện thủy điện nhưng nhất định phải bật điều hòa và nhân tiện chửi luôn sao điện cứ tăng giá. Chửi bọn binh lính và bọn vua quan hèn nhát để ngoại bang uốn lưỡi cú diều, ngoài biển phong tỏa thuyền bè, nhưng con trai tôi phải đào tạo thành kỹ sư bác sỹ, sau còn ra nước ngoài định cư, tuyệt không thể cho bọn chúng thành võ biền chỉ luyện võ luyện bắn súng đặng bảo vệ tổ quốc, nhỡ chúng chết mũi tên hòn đạn tôi khóc chứ ai. Tổ quốc đầy bà mẹ VN anh hùng nhưng Oh no, not me, I never lose control @Kurt Cobain – The man who sold the world – RIP anh.

Ai nộp đầy đủ thuế thu nhập cá nhân, hơi ít. Ai nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp, dĩ nhiên chẳng phải doanh nghiệp của anh em mình rồi. Ai trồng rừng phủ xanh đồi trọc, điên à, trồng rừng đến bao giờ mới có thu nhập, mà với bọn quan lại này không ai làm cái gì dài hơi vài chục năm như trồng rừng. Ai làm điện gió, điện mặt trời, mấy cái thứ đấy đắt lắm tốn diện tích nữa đất đai còn để trồng rau. Điện hạt nhân rẻ khỏe đấy mà nhỡ nổ thì sao. Tiên sư bọn cảnh sát giao thông, nhưng đừng lo đi đâu xa cứ găm đôi tờ tiền trên tap-lô bị cảnh sát gọi xử lý ngay. Tiên sư bọn y tế mất dạy, nhưng bà mẹ thành phố nào cũng có 20 số điện thoại bác sỹ các loại có việc gì là anh ơi chị ơi ngay lập tức.

Tiên sư bọn Phường xã. Mười năm trước tôi lấy vợ, cũng phải biếu chúng 500k, vì tôi lục tung giấy tờ quả nhiên không có tờ giấy nào chứng minh được là 3 năm lưu lạc Moscow chưa từng lấy vợ. Để chứng minh cái đó, thật không biết phải làm thế nào, gửi đi gửi lại sang Sứ quán chắc vợ chán lấy thằng khác mất, thôi biếu anh ngoài phường, anh giải quyết rất chuẩn, có 3 ngày là xong. Không thì tôi không kịp đăng ký kết hôn. Nhưng tiên sư anh ăn của tôi 500k nhé, đến giờ nhìn mặt anh tôi vẫn còn thù.

Nói tóm lại, hãy cố mà tồn tại, đọc sách nghe nhạc cho thấy mình là ưu tú. Mà quên mất mà là kể ra tôi cũng chẳng đủ tiền với lại cũng không muốn trả đủ bản quyền cho đống phim, đống nhạc nghe hàng ngày. Phiên phiến thôi.

***

Nói tóm lại lần nữa, là sinh ra trên đời đã là ăn hại và phá hoại rồi, lại còn đẻ thêm hai đứa ăn hại và phá hoại nữa, thế cũng là phê rồi. Lại còn may mắn vô vàn, vì thế hệ 7x đời cuối của chúng tôi, cho tới nay đã gần bốn xịch, được coi là một thế hệ đặc biệt trong bốn nghìn năm lịch sử được sống trong hòa bình và hơi phát triển, cũng không có mong muốn gì hơn.

Tôi viết ba lăng nhăng đêm nay trong hoàn cảnh đọc lung tung tin tức biển Đông. Những chuyện này luôn khiến tôi băn khoăn. Không chỉ băn khoăn, mà còn thấy mình trẻ lại, như hồi hai mươi tuổi vậy. Đất nước này mới gọi là tạm yên tiếng súng có từ 1989, khi ấy tôi bắt đầu được theo ông thầy già học đàn.

Vô vàn những biện luận nửa đùa nửa thật, những suy nghĩ vớ vẩn lăng nhăng, đều không thể xóa hết được một vấn đề, là tôi vẫn là một thằng Việt Nam. Mà nói gì thì nói, máu của một thằng Việt Nam bao giờ cũng là máu oánh nhau dù tan nát hết cả. Chả nói đâu xa chứ lão lính già, tức bố tôi, đang ngủ dưới nhà, chả thèm bàn gì chính trị chính em nữa cả chỉ thích chơi với cháu, nhưng lão lính già ấy cũng từng đánh nhau tá lả. Thế hệ của ông tôi, có ba anh em, thì một ông lọ mọ trong hầm chỉ huy của tướng Giáp, một ông lái xe trên đèo Điện Biên, một ông lăn lộn chiến hào A1.

Đến thế hệ của tôi, sống trong hòa bình, chỉ là tôm tép trong xã hội, mỗi khi ngoại bang gây hấn thì đều day dứt băn khoăn. Nhớ lại mười năm trước, uống rượu nhảm với bạn Kỳ trong đêm ngoài sân gió lạnh, bàn về nếu giờ chiến tranh với Khựa thì làm gì. Chúng tôi thống nhất rằng, rất rất trẻ trâu, rằng nếu có vợ con thì lo sao cho vợ con ở một nơi an toàn, mình vác vợ con chạy trước cho họ an toàn đã. Tàu Khựa có chiếm cả VN cũng kệ mẹ, chạy đã, đéo ai hơi đâu chết sớm để bảo vệ cái quốc mà lãnh đạo hay quân đội im thít thế này.

Chạy xong rồi, vợ con ở chỗ an toàn rồi, thì anh em mình sẽ tìm xem có đội du kích quân nào đó, ở bên Lào chẳng hạn. Mình sẽ tham gia vào đội đó, và chiến đấu cùng đội đó, khởi nghĩa chống lại ngoại bang như cha ông đã làm thế bao đời. Và chết trong đội quân du kích lem nhem ấy như thường lệ.

Tôi nghĩ cái mảnh đất lởm khởm và cái dân tộc lởm khởm này, tồn tại được cho đến nay, ngoài việc không làm được việc gì ra hồn khiến bọn ngoại bang bó tay chả biết làm gì với chúng mày, thì còn vì luôn nuôi dưỡng được một tinh thần yêu quê hương, nông dân nhỏ nhen Chí phèo, nhưng nhất định các bố phải sống và chết trên đất của các bố. Bất kỳ triều đại nào chính thể nào có tệ hại đến đâu, có bị tàn lụi đến đâu, dù ngoại bang có hay ho đến đâu, thì vẫn có vô vàn những thằng dở hơi vẫn nhất định tụ tập thành nhóm, bền bỉ chiến đấu dù địch chết một mình chết mười, vẫn cứ kiên trì cho tới khi về lại được ruộng vườn tổ tiên, rồi lại thành lập ra một triều đại dở hơi khác để ngoại bang bạt tai đá đít. Chả sao, tao phải sống trên đất tao rồi tính.

Hôm nay xem thời sự, điểm tin tri ân người có công với cái lọ cái chai, nhìn hình ảnh mấy bà mẹ VN anh hùng thấy ngậm ngùi quá thể. Khổ thân các mẹ, đẻ ra một lũ con, nhiều con trai, rồi ông nào cũng như ông nào, chả hiểu sao không yêu chuộng hòa bình gì cả, cứ cầm súng. Đất nước này mà giờ lại có chiến tranh, lại có ngoại bang xâm lược, thì lại khổ thân các bà mẹ. Con trai của các mẹ dù đang làm văn phòng vô nghĩa, dù đang chả biết làm gì ngoài tán gái, ăn chơi, đàng điếm nhố nhăng, uống bia nói nhảm ngu xuẩn, hay ngơ ngác như lũ bò trong các khu công nghiệp. Nhưng các mẹ nên hiểu rằng hễ ngoại bang đến bắt nạt bọn đàn bà, là cái lũ dở hơi cám lợn thật chán chả buồn chửi ấy, mười thằng sẽ ít nhất có bảy thằng cầm súng. Trong bảy thằng ấy sẽ chết năm thằng. Còn hai thằng sống sót sẽ đẻ ra một lũ con chả được dạy dỗ gì cả và lại dở hơi cám lợn, cho tới khi có một cuộc chiến tranh mới. Các mẹ có thể tự hào đồng thời xiết bao buồn bã.

Cái lũ giai Việt đen đen bẩn bẩn, đá bóng chả biết đá, văn chương chả viết được gì ra hồn, triết học bằng không, ngôn ngữ vay mượn, chữ viết chả có, nhạc nhẽo nghệ thuật cũng không, gày yếu như con cò, ngu ngốc đến nỗi chả bao giờ có nổi một chủ thuyết cho mình, chính bọn chúng, bằng cái chết, đã tồn tại được và có thể nói là không thể bẻ gãy được.

Tôi luôn luôn ghen tị với cha ông tôi. Tôi sướng hơn các ông ấy. Nhưng tôi không được làm một việc tốt nhất mà một người đàn ông VN có thể làm, là xách AK lên chui xuống hào, nhảy lên máy bay và phi, lái xe trên đèo bom nổ hai bên.

Mà tôi lại phải làm văn phòng, đọc sách, đánh nhạc, những thứ quá trừu tượng với một thằng giai Việt.

Đoàn tàu rời thành phố

Posted in Âm nhạc - Phim ảnh - Vẽ vời by Tequila on June 24, 2017

Phải chăng niềm hạnh phúc cũng như sự bất hạnh của con người, đều đến từ sự dũng cảm nhảy bừa vào toa tàu dừng ở một ga xép đêm mà không biết nó sẽ đi đâu  (!!!??? kaka). Hehe, viết câu này cho nó nguy hiểm, cho nó thấu cảm hehe. Mả cha cái từ “thấu cảm” này, mấy hôm nay đọc buồn cười quá. Cái đoạn văn trích dẫn đã ngẫn rồi, lại còn cãi nhau vì nghĩa của nó lại càng ngẫn hơn. Từ ngữ là để sử dụng, hiểu nhau là được. Mà cái từ này thì cũng có cái gì đâu. “Thấu cảm” đại loại cũng như “thông cảm”, xịn hơn tí. Như kiểu cái cống của ông già tôi thường xuyên bị tắc, gọi thợ đến thông, cho nó chảy được thì là thông cống, nhưng mà hiểu rõ vấn đề của cống làm sao trị đúng bệnh sau này không bị tắc nữa thì có thể gọi là thấu cống vậy.

À ở đây tôi viết cái rất câu thấu cảm trên, là vì tôi đang hạnh phúc sung sướng dã man, vì đã mạnh dạn hiên ngang bước vào một con đường không bao giờ tới đích và về cơ bản không để làm gì cả. Nhưng mà hoa thơm cỏ lạ thì đầy rẫy hai bên. Từ nay, xin goodbye các nhà sản xuất PC game, anh mày đã có một game khác chơi không thể chán được.

***

Số là tôi có một nhóm bạn thân. Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian cuộc đời để ngồi nói nhảm với nhau, từ tình yêu tình báo công việc ước mơ lẫn những nỗi buồn phiền. Nhưng khoảng độ năm năm trở lại đây, chúng tôi không còn chuyện gì để nói với nhau nữa cả. Nói nhiều quá hết cả đề tài rồi. Gặp nhau lại chỉ ngồi vần mấy chai rượu ngon, nghe nhạc, chả có đề tài gì. Tôi cũng phát chán lên, nhiều khi từ chối gặp các bạn. Tình bạn chuẩn bị tan vỡ đến nơi vì chẳng còn muốn ngồi với nhau.

Bọn chúng nó cũng chán. Một ngày kia, bọn chúng tán dóc với nhau trên facebook là cần phải thành lập một ban nhạc. Tôi email nộp đơn xin gia nhập ban nhạc ngay tắp lự. Thế là ban nhạc được thành lập. Trong đội, có một thằng hát hay quên sầu, trình cao, có số má trong giới nhạc nhẽo rock hardcore thanh niên Hà Nội. Thằng đó quá chuyên nghiệp, nên bị loại ngay. Cho ra rìa. Còn lại band có 5 thằng. Tôi, tất nhiên, một tay guitar cự phách đã cầm đàn từ năm 12 tuổi nhưng chưa bao giờ đánh được một bài gì ra hồn. Thằng Hiệp, một tay guitar cự phách khác, từ bé đến giờ chỉ chuyên quạt chả lúc rượu say. Thằng Nguyên, cũng tập đàn với tôi từ tấm bé, được giao đánh bass và tất nhiên là anh không biết đánh bass như nào rồi. Thằng Kỳ, một ca sỹ có màu giọng đẹp, nhưng luôn luôn sai nhịp và chưa hề biết nốt nhạc nào. Và thằng Tâm, được giao đánh trống, anh ấy tất nhiên chưa bao giờ biết một bộ trống có những bộ phận gì, thậm chí nhạc anh ấy còn chả thèm nghe.

Tập trống thì phải có trống, anh Tâm bèn đầu tư một bộ trống, đăng ký đi học. Nhưng trống thì phải có phòng riêng cách âm, không thì gia đình tan vỡ ngay sau vài buổi tập luyện. Chúng tôi tập trung nhau vào, tranh thủ lúc rảnh lao động chân tay làm được xong một cái phòng tập cách âm khá chuẩn. Đồ đạc nhạc cụ đầy đủ. Bây giờ chỉ còn tập thôi.

Mà tập cái gì? Chúng tôi thử chơi cover vài bản rock ballads nhưng ngay lập tức phát hiện ra anh em chưa đủ trình để chơi mấy bản nhạc ấy. Kể cả những bản dễ nhất. Chúng tôi ngồi uống bia với nhau bàn về tương lai u ám của ban nhạc, chúng tôi sẽ làm gì với phòng tập tiêu chuẩn và đống đàn đóm loa đài. Chúng tôi sẽ chẳng bao giờ chơi được một bài nào.

***

Tuy vậy chúng tôi có một thằng nhà thơ ở trong ban. Thời trẻ trâu thằng Kỳ điên đã có những bài thơ trác tuyệt viết trong lúc say rượu, rất nhiều nhạc tính, lời lẽ lại còn lãng mạn hoa lá, đại loại “Làm đĩ ở bến đò, cứ lò mò đêm tối, lối về là con nước, tiếp khách không là giường. Làm đĩ ở bến đò, mò không ra hạt thóc. Làm đĩ ở bến đò, đến con bò còn khóc”. Những bài thơ như thế viết ra chính để làm lyrics ca khúc rồi còn gì.

Chúng tôi có anh Nguyên lác, một con buôn đam mê công nghệ. Anh ấy sẽ làm chủ tất cả đống thiết bị âm thanh, các loại phần mềm thu âm, hậu kỳ. Và với tính thực tế của mình, thì tiếng bass của anh sẽ không màu mè phách lối. Anh sẽ sẵn sàng chê bai thẳng thừng những câu nhạc lởm.

Chúng tôi có anh Hiệp phò, con người anh đã chính là nghệ thuật rồi, chả có thứ nghệ thuật gì mà xa lạ với anh, nhạc nhẽo tất nhiên cũng thế. Anh sẽ chế tác ra những câu solo rụng rốn, lạ tai, như những cái cao siêu anh nói khi say rượu khiến chúng tôi không thể hiểu anh đang nói gì. Chỉ cần đưa cái đàn cho anh, bảo muốn chơi gì thì chơi, anh sẽ tuôn nhạc ra liên tu bất tận.

Chúng tôi có anh Tâm kỹ sư, một thủ môn xuất sắc và một quản trị viên database xuất sắc. Anh sẽ đánh trống chính xác chuẩn mực, trình lên tới đâu anh sẽ chơi đàng hoàng tới đấy.

Chúng tôi có tôi, một thằng điếc không sợ súng, chúng mày đá bóng hay thì tao đá bóng dở, chúng mày làm thơ hay thì tao làm thơ dở, chúng mày làm nhạc hay thì tao làm nhạc dở. Không sợ. Mà tôi lại là chuyên gia bắt lỗi ăn cắp của các vị nhạc sỹ. Nhạc chúng tôi làm sẽ không có nhạc ăn cắp.

Thế là chúng tôi quyết định sẽ chỉ tập và chơi nhạc do anh em tự làm, chả thèm chơi nhạc của thằng nào cả. Kể cả thằng ấy có là Chopin đi nữa.

***

Vui nhất có lẽ là hai cây đàn của tôi. Bây giờ chúng mới được chơi. Trước đây, mỗi khi buồn phiền hoặc vui vẻ, tôi cầm chúng lên gảy linh tinh dăm ba bài chả ra đâu vào đâu rồi lại treo chúng lên. Bây giờ chúng mới được làm một nhạc cụ đúng nghĩa.

Tôi mở phần mềm Guitar Pro trên máy tính, cầm đàn tìm kiếm những vòng hòa âm theo ý mình, những câu nhạc theo ý mình, rồi chép nó vào phần mềm. Nghe lại, xóa, sửa nghe lại. Khi quyết định tự làm nhạc của mình, tôi không còn bị bó buộc bởi cái gì nữa. Không còn những câu, những nhịp bị định sẵn bởi những giai điệu có sẵn. Cứ tự do tìm kiếm nét nhạc theo tai nghe của mình. Những hợp âm cũng không còn là hợp âm. Không còn bị bó buộc 6,7, dim gì nữa, chỉ đơn giản là với một hợp âm quen thuộc thì tôi cho vào những nốt lạ, có khi hay ho, có khi thối inh. Nhưng không sao, tay tôi chạy khắp cần đàn với một sự tự do mà trước đây khi chơi cover tôi chưa từng biết đến. Những kỹ thuật hạn chế mà tôi có, được dùng đúng vào chỗ tôi muốn, vào câu tôi muốn, nó trở nên rất hiệu quả.

Hồi nhỏ và hồi trẻ trâu, tôi chỉ thích chơi lead, tỉa những câu solo, cho oai. Nhưng bây giờ, khi bắt đầu mò mẫm viết nhạc, tôi mới thấy mình có khả năng trong sáng tạo bè guitar nền. Tôi muốn làm một bài hát, thì tôi sẽ chọn một hợp âm chủ, rồi cầm đàn gảy loạn cả lên cho đến khi bắt được một nhịp điệu và một hòa thanh hay, có hòa thanh rồi thì tôi bắt đầu làm giai điệu cho bài hát, tạo thành một concept chủ đạo của bài hát ấy. Rồi điền bè bass ví dụ, điền vài câu solo ví dụ, điền bè trống ví dụ, gửi cho các bạn để chế tác phần của các bạn.

Cũng như nhiều entry dang dở của cái blog này, tôi có nhiều những đoạn nhạc làm thử, rồi không thành công vứt đấy, chỉ coi là bài tập. Có những hôm làm ra một đoạn thấy hay ơi là hay, save lại, sáng mở ra nghe, thấy như dở hơi, hoặc phát hiện là giai điệu này mình đã vô thức ăn cắp ở đâu đó.

Những đoạn nhạc tiến bộ lên dần đều, đến bây giờ đã có một hai đoạn nhạc tôi thấy hay. Có những đoạn nhạc lởm, tôi giữ lại đấy, có thể lúc nào khác sẽ lấy ra làm lại. Tôi còn hứng khởi phổ nhạc với đầy đủ các bè hòa âm cho một bài thơ của Lưu Quang Vũ, một bài thơ tôi đặc biệt thích. Rất tiếc rằng khi xong, nghe lại, thì cái màu của nó vẫn còn tầm thường, lúc khác tôi sẽ làm lại nó.

Cafe ngoai o 4

 

***

Ba năm triền miên nghe nhạc cổ điển quả là có lợi ích của nó. Tôi đã hiểu làm sao để treo một giai điệu chủ đạo ở trên cao, rồi thả vào một chuỗi những note bay lượn xung quanh để làm nền cho nó, rồi kéo một chuỗi khác với màu khác hẳn từ bên ngoài vào, thả cho chúng chạy song song hay vòng quanh, ghép tất cả chúng cho tập trung tại một điểm, nhấn mạnh nó, rồi chuyển đoạn. Chúng sẽ vui tươi hay buồn thảm, là do ý mình thôi.

Nghe thì nguy hiểm như vậy, nhưng âm nhạc là thứ tự nhiên và gần gũi với con người, thò tay ra là nhặt lấy. Như một anh thượng cổ cầm chày gỗ đứng trước của hang rống lên u ú. Như một người đàn bà vớt củi bên sông, bất giác hát la la la trong trẻo. Như một đứa trẻ nhảy chân sáo húy gió khi được thả ra vườn chơi.

Nhạc của chúng tôi có thể không hay. Quyền làm ra nhạc là quyền của tất cả mọi người. Hay dở lại là chuyện khác. Nhưng đều là những thằng duy mỹ và khắt khe theo kiểu của riêng mình, chúng tôi sẽ cố làm ra được nhạc để chúng tôi tự nghe được, chẳng phải để nhận được lời khen từ ai hết. Nó cũng như làm một bài thơ viết một đoạn văn vậy thôi. Và không có một công thức nào cả. Người ta không phải cứ tốt nghiệp trường văn thì mới được viết văn. Người ta cũng chẳng cần phải tốt nghiệp nhạc viện thì mới được viết nhạc.

Bọn trẻ trâu mười tám hai mươi bây giờ chơi nhạc rất nhiều, họ cũng toàn chơi nhạc tự sáng tác, thỉnh thoảng đâu đó bắt gặp trên youtube những bài thật hay. Chúng tôi rất khâm phục họ. Chúng tôi nay đã gần bốn xịch cả rồi, vui buồn nếm trải biết bao nhiêu. Giờ lôi lại những ký ức vui buồn đó, cả những cái hiện tại nữa, chuyển thành nhạc mà chơi thôi.

Đoàn tàu rời thành phố

Mang nỗi buồn tuổi trẻ

Những khung cửa lướt nhìn

Làng mạc in bóng mình

Trong nỗi buồn thành phố

*

Chúng ta thời tuổi trẻ

Đi hoang trong mộng tưởng

Vắt vai đầy hoài niệm

Mắt nhìn thấy hoang mang

Tay nắm đầy ước mơ

Tâm hồn chưa vấy bẩn

Bài thơ này của anh Kỳ điên, trước đây đã được một anh kiến trúc sư người Đức phổ nhạc. Chúng tôi quyết định lấy giai điệu của anh người Đức, sửa đi một chút và làm một phối khí mới. Đêm qua tôi đã viết ra được một concept khá tốt cho nó, ngày mai cuối tuần chúng tôi sẽ ngồi tập thử xem nó ra sao. Nền guitar của tôi nghe như tiếng đoàn tàu lịch xịch chạy xa dần trong đêm, với những ánh đèn loang loáng, thế mới tài.

Tự làm nhạc, tự chơi, tự khen mình, thật không có gì sướng bằng tự sướng.

Cổ tích Sói Lucas

Posted in Bịa chơi by Tequila on May 23, 2017

Có những lúc, thường xảy ra vào cuối buổi sáng của một ngày làm việc, giữa những lùng bùng của cái mạng nhện do mình tạo ra và những cái mạng nhện mình bị lồng vào, bỗng dưng tôi thấy đầu óc mình sạch trơn, cơ thể mình khoan khoái, cuộc đời thật đẹp. Tôi quên khuấy những lo toan và những điều tồi tệ, đun một tách cafe, đốt cái nến thơm, châm điếu thuốc, gác chân lên bàn, mở một bản nhạc thật hay mà mình đang thích, rồi chìm vào đó trong 5 phút, 10 phút, nửa tiếng… tùy vào việc chuông điện thoại hay tin nhắc việc rung lên khi nào.

Tôi vẫn là một đứa trẻ mộng mơ. Trong những giờ khắc tuyệt vời như thế, tôi trôi vào những kỷ niệm, những hình ảnh cũ, hoặc hơn nữa là những không gian trong tưởng tượng, những ký ức chưa từng xảy ra. Những ký ức chưa từng xảy ra ấy có thể mờ mịt, có thể rất chi tiết, chỉ cần có đủ thời gian và có muốn chi tiết hay không, tôi sẽ zoom vào cận cảnh như là vặn chuột để zoom bản đồ Googlemap. Đó là một trò chơi rất thú vị nhưng không phải lúc nào cũng có thời gian có sự yên tĩnh và đầu óc sạch sẽ để mà chơi. Tôi chỉ có những tiểu cảnh, một lúc nào đó có thể tôi sẽ ghép chúng lại thành một bộ phim. Lúc cuối giờ sáng nay cũng vậy.

Tôi đang ngồi trong một quán rượu Thượng Hải 1930, uống whisky trong đậm đặc khói xì gà, ngắm cô ca sỹ đung đưa trong chiếc áo dài màu huyết dụ. Tôi nằm dài trong góc hào, bụi và thuốc súng nóng cào trong cổ họng, không còn sức để đứng dậy nữa, hơn cả nỗi sợ mà là nỗi tuyệt vọng và buồn rầu khi lấp ló những tên địch đã hiện ra sau làn khói. Mặt biển phẳng lặng sóng lăn tăn lấp loáng,  vừa ném cho tôi cuộn thừng, lão già bệu xấu xí vừa chửi tôi bằng một thứ tiếng tôi không hiểu. Tôi ngắm nhìn cô gái đã nửa tiếng, mặc dù cô không đẹp lắm nhưng tôi cần phải có một ai đó để nhìn trong buổi tối hôm ấy, thế rồi cô ấy quay sang nhìn tôi, cái nhìn của cô có một vẻ gì đó khiến tôi biết rằng nếu còn ngồi lại thì tôi sẽ yêu cô, tôi bỗng cảm thấy sợ và đứng dậy trả tiền bỏ đi khỏi quán, mãi đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái nhìn của cô. Tuyết, toàn là tuyết, chúng tôi sẽ làm thế nào mà vượt qua được cánh đồng rộng lớn toàn tuyết này đây, người bạn đồng hành câm lặng của tôi vẫn đang khó nhọc bước lên từng bước một, anh vẫn chưa thèm hỏi tên tôi là gì, một tiếng sói tru dài vọng tới từ triền núi sau lưng…

Sói à? À hóa ra list nhạc của mình lại random ra cái bản nhạc này.

***

Ở cái thời xa xưa ấy, thời mà người ta còn tin vào thơ ca và những điều kỳ diệu, thời mà ai cũng sẽ gặp may mắn nếu trên đường bộ hành tình cờ nghe được điệu dân ca bên bến nước, ở thời đó có một ngôi làng, cũng nhỏ và cũng như mọi ngôi làng khác trên khắp vùng bình nguyên rộng lớn này, người ta giữ lửa trong đêm bằng những câu chuyện cổ tích.

Làng nằm ở rìa phía bắc của bình nguyên. Chỉ có hai con đường để đến làng. Một là từ phía tây men theo dòng sông mà đến. Hai là từ phía đông nơi có những dãy núi cao quanh năm tuyết phủ. Ai đến làng, câu đầu tiên họ được nghe luôn là câu hỏi, anh từ đâu đến, dù người làng biết tất cả những người đến đây đều đi từ phía tây dọc theo con sông. Đường phía đông từ núi xuống, là đường của nai sừng tấm, bò rừng và những kẻ săn đuổi chúng, những con sói.

Anh từ đâu đến? Tất nhiên, tôi đi từ phía tây dọc theo con sông này, lữ khách trả lời. Rồi nếu lữ khách cứ theo con đường lát đá, lữ khách sẽ đi qua giếng nước, rồi tới cánh cổng gỗ của ngôi nhà mà trên cửa sổ không hiểu sao luôn được buộc một dải nơ xanh. Lữ khách có thể sẽ gõ cửa căn nhà, xin một cốc nước nghỉ chân, ngồi dưới bậc thềm nhà.

Rồi có lẽ người lữ khách vô danh đó chính là người đã mang câu chuyện này tới những bếp lửa của những ngôi làng xa xôi nhất ở phương nam, và từ đó nó sẽ được tên cướp biển kể trên những con thuyền buồm đen vượt đại dương, đem nó đến với những xứ sở ở tận bên kia bờ biển.

Những kỵ sỹ đi ngược bóng đêm

Hành lý là thanh gươm sứt mẻ, những vết thương, và bài ca của phương xa

Họ trở về nhà sau cuộc chiến chinh,

đường dài đường dài từng người từng người ngã xuống

tuyết rơi lên những thân hình ấy

Chỉ một người cuối cùng, sau khi chôn cất hết các bạn mình

đã được hát bài ca phương xa bên bếp lửa ngôi nhà cũ

Người trong làng gọi cô bé là cô bé quàng khăn đỏ, bởi cô bé lúc nào cũng choàng một tấm khăn lụa đỏ dệt chìm những họa tiết của phương đông. Đó là quà của cha cô bé, khi ông là người lính duy nhất trở về làng sau cuộc chiến ấy. Ông về vào giữa mùa đông, treo thanh gươm của mình lên tường, và hay ngồi bên bếp lửa mà nhìn nó hàng giờ. Ông ít nói chuyện với mọi người trong làng, thường chỉ gật hoặc lắc đầu. Ông chỉ hay cười với cô bé và mẹ cô, nụ cười ấm áp nhưng vẫn như là đến từ nơi xa lắc. Lúc vui là những buổi chiều làm đồng về, ông ngồi bên bậc thềm, ôm cô bé vào lòng, ngắm nhìn những rặng núi, kể cho cô bé nghe về những miền xa, nơi này người ta làm những bình gốm có màu ngọc lục bảo, nơi kia người ta dệt vải và nhuộm màu thành mười ba sắc độ của mặt trăng, như thể ông đã trở về từ xứ thiên đường huyền ảo.

Niềm hạnh phúc của cô bé không kéo dài. Vào đầu mùa đông năm sau, vào ngày tuyết rơi đầu mùa, cha cô lấy thanh gươm từ trên tường nhà xuống, đóng hành lý và ra đi. Ông bảo với mẹ cô bé, anh đã cắm những thanh gươm của các bạn mình lên mộ của họ, anh nghĩ mình đã sai, anh sẽ đi tìm lại chúng để trao lại cho những đứa con trai của những người bạn từ thuở ấu thơ ấy. Mẹ cô bé không hiểu được tại sao, nhưng nước mắt không thể nào ngăn cản.

Ba năm rồi kể từ ngày cha cô bé ra đi. Bà ngoại nói, cha cháu sẽ về, nhưng cháu phải luôn quàng tấm khăn đỏ của cha, điều đó sẽ giữ may mắn ở bên ông ấy. Cô bé nghe lời. Mùa đông cũng như mùa hè cô quàng lên tóc và thả nó trùm hai vai xuống tận eo lưng. Người làng mỗi khi gặp cô bé, đều đứng lại chào cô, “chào Cô bé quàng khăn đỏ, Chúa sẽ phù hộ cho cha cháu sớm bình an trở về, như đã từng như thế”. Đôi khi những lời ấy khiến nỗi nhớ cha của cô trở nên không chịu nổi, cô lủi thủi đi qua cánh rừng thưa để đến với bà ngoại.

Hôm ấy có một người từ phương xa tới làng, người ấy hỏi, đây có phải ngôi làng của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm không? Mọi người gật đầu. Người ấy nói, mùa đông năm ngoái tôi có gặp ông ta ở một quán rượu ven đường, với một túi vải đựng những thanh gươm đã tìm được, bão tuyết và tôi cùng ông ta nói chuyện suốt đêm. Ngày hôm sau bão vẫn chưa ngưng, nhưng ông ta nhất định lên đường. Ba ngày sau, bão tan, tôi đi, cũng đi theo hướng kẻ gàn dở ấy đã đi, vì các bạn biết đấy, đường là độc đạo, nhưng những quán rượu tiếp theo đều không ai thấy ông ta. Rất có thể ông ta đã chết.

Cô bé quàng khăn đỏ đứng lặng nghe. Rồi cô bỏ chạy đi trước khi giọt nước mắt đầu tiên kịp hiện ra khóe mắt, nhưng rồi chúng nhanh chóng thấm ướt đôi má và tấm khăn choàng màu đỏ. Cô chạy về phía rừng, chạy về phía nhà bà ngoại. Mùa đông tuyết rơi, tuyết trắng bầu trời và mặt đất, phủ kín mặt sông đóng băng, ngập tràn những cánh rừng và đồng cỏ. Người trong làng và vị khách phương xa nhìn mãi theo màu khăn đỏ của cô lấp loáng xa dần trong tuyết.

Cô bé chạy vào trong rừng, lúc lúc lại vấp ngã, rồi cô ngồi xuống một gốc dẻ gai, nép mình vào bộ rễ vạm vỡ của nó, rúc mặt vào tấm khăn mà khóc thành tiếng hồi lâu. Tới khi nước mắt đã cạn, cô quàng lại khăn, đứng dậy, và nhìn thấy nó, con sói to lớn lông xám đang ngồi nhìn mình chăm chú.

Những kẻ khách buôn đã mang câu chuyện Cô bé quàng khăn đỏ tới những ngôi làng khác, và nhất là bọn cướp biển, mỗi khi kể tới đoạn này, đều dừng lại để tranh cãi. Có kẻ nói rằng, ắt hẳn con sói đang no bụng, nó chưa gặp người bao giờ và rất có thể có những con sói không cho rằng người là con mồi hay là kẻ thù. Có kẻ còn khẳng định rằng, chó sói hay chó nhà thì đều là chó cả, và có những con sói sinh ra đã yêu quý con người, như những con chó kéo xe vậy. Lại có kẻ kể thêm rằng ông nội hắn đã gặp những người du mục phương bắc sống chung với loài sói.

Dù sao, chẳng ai biết được cả, đó là bí mật của con sói.

***

Con sói có bộ lông đen xám, những túm lông dài phủ lên đôi vai lực lưỡng thành một cái bờm dày từ cổ tới giữa sống lưng, đôi mắt màu hổ phách. Nó ngồi bất động nhìn cô bé chằm chằm, cánh mũi phập phồng, hơi khẽ nghiêng đầu.

Cô bé như thấy tim mình ngừng đập, sợ hãi tê dại, đôi mắt hổ phách của con sói gim chặt cô vào thân cây. Cô đã nghe bà ngoại kể về loài sói, những con vật hung dữ và tinh khôn bậc nhất, loài chiến binh săn mồi vô địch của núi đồi và thảo nguyên. Bà kể rằng khi bà còn trẻ, có những đàn sói xám đã theo những đàn bò rừng và nai sừng tấm từ những rặng núi cao phía đông tràn xuống. Chúng tấn công gia súc, bắt cả ngựa đang nhốt trong chuồng, giết chết toàn bộ chó nhà trong làng, và mang cái chết đến cho vài người chăn cừu. Tiếng hú gọi bầy và nhất là tiếng tru bi ai hoang dại kinh người của chúng vào những đêm trăng tròn khiến những người đàn ông dũng cảm nhất cũng phải dựng tóc gáy. Chính ông ngoại của cô bé đã cùng các bạn của mình, bắt đầu suốt từ mùa đông cho đến cuối mùa hè, đã lập các toán săn sói dùng cung nỏ và những chiếc bẫy thép lớn, vây và tiêu diệt những đàn sói, xua đuổi nhưng con sói cuối cùng ra khỏi những đồng cỏ cuối cùng, trở về những rặng núi của chúng. Từ đó đến nay sói không trở lại. Chỉ những người thợ săn dũng cảm và có phần liều lĩnh, khi đến gần những rặng núi xa ấy, mới đôi khi mơ hồ nghe thấy tiếng tru đáng sợ của loài sói.

Con sói vẫn ngồi yên, cánh mũi phập phồng, thỉnh thoảng lúc lắc đầu, đôi tai nhọn khẽ xoay theo từng đợt gió. Rồi không báo trước, nó nhấc mình dậy, quay lưng và bỏ đi, nhanh chóng khuất sau bụi cây trĩu tuyết.

Cô bé mất một lúc lâu mới định thần. Cô nhận ra mình đang run lên từng cơn. Cô bắt đầu chạy, nhưng ngay sau đó dừng lại ngay, cô sợ tiếng chân chạy của mình sẽ gọi con sói quay trở lại. Trong nỗi khiếp sợ, cô rón rén đi từng bước, không dám thở mạnh, vừa đi vừa nhìn quanh, rất lâu mới đến được ngôi nhà của bà, ngôi nhà ở ngay sau đoạn rừng thưa mà bình thường cô chạy vèo là tới.

Cô bé ôm chầm lấy bà ngoại. Cô thảng thốt kể cho bà nghe về con sói. Bà ngoại cô bảo, không phải sói đâu. Nếu sói về, thì ở đây bà sẽ là người đầu tiên nghe thấy tiếng hú gọi bầy của chúng. Những con sói đi theo bầy và chúng sẽ gọi nhau khi đi xa như vậy. Có thể cháu nhìn thấy một con chó săn hay chó kéo xe mải chơi mà thôi. Và nếu đúng là sói, thì cháu có thể bị nó ăn thịt rồi.

Đúng là mình chỉ thấy một con chó to lớn mà thôi, một con chó thật to lớn, cô bé nghĩ. Nỗi sợ hãi đã qua đi, cô lại nghĩ đến cha cô và cơn bão tuyết mà người khách phương xa đã kể. “Đa số người ta sẽ chết trong một cơn bão như vậy. Nhưng cha cháu thuộc về thiểu số, vì cháu vẫn luôn quàng tấm khăn này” bà ngoại nói và ôm lấy cô, lấy cho cô một bộ quần áo sạch và chải tóc cho cô, cho đến khi mẹ cô vì lo lắng đã tìm tới, đôi mắt cũng mọng đỏ vì nước mắt. “Chồng của con có phải là người có thể chết vì một cơn bão tuyết hay không?”, bà ngoại hỏi mẹ cô bé và nhận được cái lắc đầu. Đêm đó hai mẹ con ở lại nhà của bà ngoại. Cô bé nằm mơ thấy cha mình trở về trong đêm, gọi cô “Khăn đỏ xinh đẹp của cha, mở cửa nào!”, cô nhỏm lên khỏi gối, hé khe cửa sổ nhìn ra thì chẳng thấy ai, chỉ thấy trong bóng tối hai đốm tròn rực lửa lóe lên rồi biến mất.

Sáng hôm sau mẹ đưa cô về nhà. Những ngày chờ đợi lại tiếp diễn như bao ngày khác. Cô bé quàng khăn đỏ vẫn còn là một cô bé và vào thời ấy thì ai cũng tin vào những điều kỳ diệu. Cô tin cha mình vẫn đang đi tìm những thanh gươm, cô vẫn quàng tấm khăn đỏ in chìm những họa tiết lạ mắt của phương đông để bảo vệ cha khỏi những cơn bão tuyết khác. Và cô bé biết rằng con vật to lớn có đôi mắt hổ phách ấy, chính là một con sói.

Trong niềm tin thơ trẻ ấy, cô mơ mộng rằng con sói sẽ quay lại, nó sẽ ở quanh đây, dẫn cô đi săn nai trên những triền núi xa, bảo vệ cô khỏi những con thú hoang, và khi cô lớn lên một chút, nếu lúc ấy cha cô vẫn chưa về, nó sẽ dẫn cô đi tìm cha cô, tìm Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm.

***

Nhiều năm về trước, khi chiến tranh chưa đến, khi nghỉ chân ở những quán rượu phương nam, những khách buôn thường kể cho nhau nghe về ngôi làng xinh đẹp ở thung lũng xinh đẹp nhất của bình nguyên, làng của những sắc màu rực rỡ. Vào mùa xuân, những đồng cỏ của nó mọc lên những tấm thảm dệt bằng những loài hoa đẹp nhất. Vào mùa hạ, nước sông của nó xanh biếc và lóng lánh như vòng ngọc mà bọn cướp biển đem được về từ bên kia đại dương. Vào mùa thu, sắc vàng của nó là không đâu sánh được và mùa đông thì tuyết cũng như thể trắng hơn tất cả mọi miền khác.

“Họ thật là may mắn” – một khách buôn đường xa nói – “dân ở trong ngôi làng có dòng sông và những cánh đồng đẹp tuyệt vời ấy. Tôi tin rằng ngôi làng ấy không có nhà thơ, vì không ai gom đủ nỗi buồn”.

“Đúng vậy” – một người khác nói – bệnh tật thậm chí cũng không đến đấy, những người già trong làng sống dai đến nỗi quên mất cả tên mình. Nghe nói họ từng là những chiến binh rất dũng cảm đấy. Nhưng đã quá lâu rồi chẳng có cuộc chiến nào lan được đến đấy và gọi những người đàn ông ra đi. Những thanh gươm của cha ông họ chắc đã rỉ sét hết cả rồi. Đến chó sói cũng lâu lắm không còn đến đó”.

“Một nơi thiên đường như vậy” – tay trẻ nhất hỏi – “vậy sao các anh không đến đấy mà ở?”

“Chúng ta biết làm gì ở đấy, chẳng có gì để làm ở đấy cả, đó chỉ là nơi ta đến, buôn bán vài thứ ,trầm trồ và đi, giống như cậu không thể ngồi cả ngày mà ngắm một bông hoa.”

“Vậy phụ nữ của họ thì sao?”

“Họ là những phụ nữ đẹp nhất trong khắp bình nguyên này, tôi nghĩ thế, có lẽ là cả bên kia Núi Lớn nữa cũng không có đâu đẹp hơn họ. Nhưng họ không màng gì tới chúng ta, những kẻ phương xa lang bạt. Có khi họ cũng không biết yêu”

“Phải” – tay khách buôn đầu tiên tiếp lời – “tôi đã bảo là họ không có nhà thơ. Ở nơi mà không có nhà thơ, không có nỗi buồn, thì là nơi mà Thượng đế đã lãng quên và tất nhiên tình yêu cũng bị quên đi nốt, không sao mà nhớ ra được”.

Tay trẻ trai tất nhiên không thể đồng ý, và họ cứ tranh luận mãi đến khi ngà say và đi ngủ, chuẩn bị cho ngày mai lên đường. Rất nhiều những câu chuyện như vậy nói về ngôi làng của những sắc màu rực rỡ khiến các tay chủ quán rượu suốt các nẻo đường miền nam của bình nguyên này trở nên chán ngán và coi là thứ tầm phào của bọn khách buôn phiêu bạt chẳng bao giờ thực sự có nổi ngôi nhà của mình dù vợ họ có đẻ ra mười đứa con đi nữa.

***

Làng ở rìa phía bắc, nơi xa xôi nhất và may mắn nhất, nhưng mùa xuân năm đó chiến tranh cũng đã gửi cho họ lời hiệu triệu đến từ thủ lĩnh của tất cả các ngôi làng của bình nguyên.  Người đưa tin, một kỵ sĩ tóc trắng mũi khoằm và gương mặt dài như cái lưỡi cày, sau khi uống hết cốc sữa to tướng để lại sức, mỏi mệt nói rằng anh đã đi khắp các làng miền bắc và đây là nơi cuối cùng. Lời hiệu triệu trên tấm da dê thuộc, có đóng dấu của vị thủ lĩnh, và vết máu in lên bằng lưỡi của con dao găm khắc hình mặt trăng thượng huyền, chỉ viết một câu, “Hỡi những người anh em ở những bản làng xa xôi nhất, hãy chiến đấu cùng chúng tôi”. 

Người cha của cô bé, người mà sau này được gọi là Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm, đã xung phong trước tiên. Rồi theo anh là mười lăm người bạn, những người đã cùng nhau lớn lên trên dòng sông và đồng cỏ và những cánh rừng, những người đàn ông khỏe mạnh nhất làng, những người thuở nhỏ từng nghe mê say những câu chuyện bên bếp lửa về những kỵ sỹ can trường xưa kia từng đánh bại những kẻ đến từ bên kia rặng Núi Lớn phía đông, và vẫn còn giữ gìn những thanh gươm của cha ông.

Năm đó người cha hai mươi bảy tuổi, anh nói với vợ mình, một thiếu phụ xinh đẹp mái tóc màu hạt dẻ lượn sóng, người mà từ lâu đến với anh tự nhiên như đương nhiên phải thế, nhưng họ mới chỉ có một bé gái bốn tuổi cũng tóc màu hạt dẻ, rằng, ngày mai anh đi và anh sẽ sớm trở về.

Chiều hôm đó, anh dẫn con gái ra đồng cỏ, con bé không hiểu sao chỉ hái những bông hoa màu đỏ và anh ôm một ôm những bông hoa đó về nhà. Anh lấy thanh kiếm của ông nội mình, thứ mà anh vẫn gìn giữ dù không nghĩ là cần đến, mài sắc lại và cắt cho bằng những cuống hoa, bó chúng thành từng chùm nhỏ, thắt lên mỗi chùm một dải nơ xanh cắt ra từ tấm vải cũ chẳng biết để trong nhà từ bao giờ. Rồi con gái anh mang những chùm hoa đỏ rải khắp nhà, trên bàn ăn, trên sàn nhà, dưới chân giường, gài lên cửa, và nó đòi anh buộc một dải nơ lên cửa sổ, nói để bao giờ cha về cha sẽ nhận ra nhà mình. Đêm đó anh yêu vợ mình trong hương hoa dại phảng phất rồi ngủ thiếp đi trong vòng tay của nàng, úp mặt vào ngực nàng và môi anh cảm thấy vị mặn mặn không biết là mồ hôi hay nước mắt.

Sáng hôm sau mười sáu kỵ sỹ, là anh cùng mười lăm người bạn ấu thơ, lên đường và họ chia tay những người phụ nữ và những đứa trẻ một cách đơn giản như là chỉ đi săn nai săn gấu.

Chiến cuộc kéo dài tới năm năm.

Nếu câu chuyện tầm phào của những tay khách buôn thời còn hòa bình ấy là đúng, rằng ở ngôi làng này không có nỗi buồn, thì anh và các bạn đã biết tới nỗi buồn đầu tiên sau ngày lên đường hai tháng. Đó là khi người bạn hàng xóm của anh, là kẻ mà khi xưa đã đánh cuộc với anh xem nàng, vợ anh bây giờ, sẽ yêu ai, đã chết vì một nhát kiếm xả từ vai trái xuống ngực. Anh và mười bốn người bạn còn lại đã chôn cất người bạn ấy bên một gốc sồi già, đánh dấu cây sồi bằng một chỉ dấu chỉ các anh biết với nhau, và cắm lên ngôi mộ người bạn thanh gươm của anh ta.

Những nỗi buồn cứ tăng dần lên. Anh cắm xuống đất một thanh gươm khác, ở rìa ngôi làng vốn nổi tiếng vì làm ra những bình gốm xanh màu ngọc lục bảo. Anh cắm thêm hai thanh gươm nữa ở cánh đồng tuyết của ngôi làng mà trước chiến tranh khách buôn thường đến và chờ hai tuần để gom đủ các tấm vải nhuộm mười ba sắc độ của mặt trăng. Rồi thanh gươm ở vách đá Đại Bàng, thanh gươm ở làng vốn có thứ rượu thơm nhất say nhất, thanh gươm ở khúc sông cạnh làng của vị thủ lĩnh huyền thoại xưa kia…  Chỉ có sáu người bạn còn theo anh vượt ra khỏi bình nguyên, nhập vào các toán quân khác truy kích kẻ thù vòng theo đường chúng đến, vòng ra sau những ngọn núi phía đông.

Kẻ thù cuối cùng mà họ đuổi kịp, là một chiến binh bị thương ở vai và tay trái, đang mất dần máu, đã để rơi mất thanh kiếm cong, hoàn toàn kệt sức và từ bỏ hy vọng sống, hắn ngồi xuống buộc ngựa vào gốc cây và đợi cái chết sẽ đến từ toán quân kiên trì truy đuổi. Hắn chẳng buồn nhìn khi anh và các bạn tới. Hắn lấy trong ngực áo ra và quàng quanh mình một tấm khăn lụa đỏ, hệt như màu những bông hoa dại mà con gái anh đã hái về nhà buổi chiều ấy. Có thể nỗi nhớ con làm anh mềm lại, hoặc có thể là nỗi buồn, khiến anh không còn đủ lòng căm hận để hạ sát tên địch. Anh và các bạn băng bó cho hắn, cho hắn thức ăn và bảo hắn đi đi. Hắn chẳng ngạc nhiên, có thể hắn cũng đã quá buồn. Hắn đưa cho anh tấm khăn quàng màu đỏ, nói, trước khi đi mẹ tôi dặn hãy luôn mang theo tấm khăn mẹ dệt này, nó sẽ giữ cho con trở về. Tôi muốn anh hãy nhận nó, như lời cảm ơn mà mẹ tôi sẽ nói với Thượng đế khi thấy tôi về trước cửa.

Nhìn theo kẻ thù cuối cùng ấy khuất dạng, họ không cảm thấy niềm vui của những kẻ chiến thắng. Nỗi buồn đã trĩu nặng trái tim họ, và họ chỉ muốn trở về nhà, càng nhanh càng tốt. Họ quyết định sẽ theo đường chim bay cắt qua Núi Lớn để trở về nhà nhanh nhất.

Nhưng họ đã sai. Hoặc có thể Thượng đế bị đánh thức vì nỗi buồn nỗi nhớ nhà của họ, Thượng đế mang mùa đông đến sớm hơn thường lệ. Những đợt tuyết dày và tiếng tru kinh người của những bầy sói trên núi làm họ kiệt sức. Rồi những cơn bão tuyết cũng mạnh hơn thường lệ. Anh, người cha, kẻ mà sau này là Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm, đã dùng cặp mắt khô khốc của mình ghi nhớ các chỉ dấu, lần lượt cắm sáu thanh gươm còn lại rải rác trên các đèo dốc của rặng núi, trước khi về được tới nhà.

Ai trong các anh cũng hứa với vợ và những đứa trẻ rằng, anh sẽ về, cha sẽ về. Nhưng chỉ một người giữ được lời hứa đó, là người có dải nơ xanh thắt trên cửa sổ. Có điều, anh đã không còn giống như là một người trẻ tuổi nữa.

Anh về và làm những công việc của một người đàn ông trong gia đình. Anh đi làm đồng, cắt cỏ, lấy nước, xay bột, chăm sóc những con ngựa,… như mọi người đàn ông khác. Mỗi chiều khi trở về nhà, anh ngồi trên bậc thềm nhà, ngắm những rặng núi xa, ôm con gái vào lòng và kể cho nó về những con đường và những làng mạc. Anh kể cho nó nghe về ngôi làng nơi người ta làm ra những bình gốm có màu ngọc lục bảo, anh kể cho nó nghe về ngôi làng nơi người ta dệt ra những tấm vải và mất hai tuần để nhuộm chúng thành mười ba sắc độ của mặt trăng. Anh kể nhiều miền đất và phong cảnh khác nữa.

Anh không kể cho con gái nghe về người bạn anh, tại ngôi làng có những bình gốm ngọc lục bảo, đã bị chém mất một cánh tay, người ấy vẫn lao theo anh và các bạn, rồi mới kiệt sức ngã xuống giữa vòng vây. Anh cũng không kể cho con gái nghe về hai cái xác không đầu ở cánh đồng của làng mười ba sắc độ mặt trăng, mà khi kẻ địch đã rút, mãi anh và các bạn mới tìm ra đầu của họ. Khi còn sống họ thường trêu trọc cãi vã nhau, nhưng nhớ về hai cái đầu của họ, anh cứ hoài nghi rằng mình đặt nhầm đầu người này vào mộ của người kia, vì hai cái đầu ấy quá giống nhau. Anh cũng chỉ kể về cây dẻ cổ thụ ở đỉnh Núi Lớn, mà không kể rằng đó là nơi anh và người bạn cuối cùng của mình đã ôm cuộn vào nhau dưới gốc cây tránh bão tuyết, như hai con mèo con ôm nhau ngủ bên bếp lửa, và khi bão tuyết tan anh đã chôn cái xác lạnh lẽo của người bạn cuối cùng dưới gốc cây ấy.

Anh chẳng thể giao tiếp bình thường được với người làng. Anh không sao mà nói chuyện được với vợ họ, con trai hay con gái của họ, cha hay mẹ họ, anh hay em họ, hay hàng xóm của họ, hay tất cả những người từng biết họ. Anh như thấy hổ thẹn khi mình còn sống, đã về tới nhà, sống, với vẻn vẹn một câu thông báo, tất cả bọn họ đã chết. Mỗi tối anh ngồi bên bếp lửa nhìn đăm đăm lên bức tường, nơi treo thanh gươm của anh, thanh gươm còn lại của mười sáu kỵ sỹ. Một ngày anh nói với vợ mình rằng, anh phải đi tìm lại những thanh gươm, anh nói rằng để trao lại chúng cho những đứa con trai của mười lăm người bạn ấu thơ ấy, một lý do vô lý anh nói ra vì không nghĩ ra được lý do nào hợp lý.

Anh, không, người đàn ông chưa già ấy đã không thể nào còn trẻ được nữa, ông ta quàng lên vai con gái mình tấm khăn quàng đỏ dệt chìm những họa tiết phương đông, hôn vợ mình, dịu dàng ôm đứa con gái đẫm nước mắt sau khi lại thắt lên cửa sổ dải nơ xanh, dặn nó hãy quàng tấm khăn quàng đỏ và giữ dải nơ xanh, rồi dắt con ngựa lông xám điểm xuyết những đốm trắng, ra đi, khuất dần sau tấm màn sạch tinh của cơn tuyết đầu mùa.

Ông, kẻ đi tìm những thanh gươm, kẻ đi thăm hỏi lại mười lăm cái chết của bạn mình, tất nhiên không thể nào là người có thể chết vì một cơn bão tuyết.

bf89b40231ac76c19dea674710a36e95

***

Tôi viết mấy khúc dài dài trên vào một buổi chiều thứ bảy, khi chẳng có ai ở nhà, một ngày đầu hè dịu mát. Nhưng mà tôi uống bia ướp lạnh, và nghe một bản nhạc tuyệt hay trong phim Sông Đông êm đềm. Bản nhạc bắt đầu bằng một khúc guitar rất nhẹ nhàng, rồi giai điệu của nó lôi tôi vào một không gian toàn là tuyết. Tôi đóng cửa phòng, mở nhạc thật lớn, nghe đi nghe lại bản nhạc, và thấy mình là một kỵ sỹ một mình một ngựa lần mò trong con đường núi lạnh lẽo cô độc. Tôi thấy thèm vodka và rút chai rượu trong tủ lạnh ra, và bắt đầu gõ liên tục câu chuyện về người kỵ sỹ đi tìm những thanh gươm.

Cuối cùng khi chiều đã tàn, tôi cảm thấy mệt mỏi không phải vì vodka mà vì quá tập trung. Tôi nằm dài ra sofa và ngủ cho tới khi tới giờ cơm. Trước khi ngủ tôi còn biết chắc là Kẻ đi tìm những thanh gươm rồi sẽ trở về trước khi con gái anh ta trở thành thiếu nữ, nhưng khi ngủ dậy thì tôi không biết nữa. Chẳng biết hắn có về được hay chết dọc đường, và con bé con sẽ làm gì với con sói của nó. Kệ cụ nó.

Nhiều tháng sau, tôi đến một thành phố băng tuyết vào cuối mùa đông. Ngồi trong phòng khách sạn, tôi bật đi bật lại bản nhạc ấy, và cũng bia, cũng vodka. Tôi nghe mãi bản nhạc, cho tới khi lễ tân gọi lên, báo là khách phòng khác than phiền vì mày bật nhạc quá to, mà lại có mỗi một bài cứ tua đi tua lại cả tiếng. Ở cái thành phố mà tôi đến, những bờ sông hoang vắng băng đã tan được nửa mặt sông, mùa xuân đang đến rồi. Thế là tôi viết tiếp một đoạn về mùa xuân đến với làng của những sắc màu rực rỡ.

Mùa xuân.

Mùa xuân trốn đâu đó sau những cơn tuyết cuối cùng, có thể nó bay lượn đâu đó ở trên đỉnh núi, hoặc nó nép mình lẫn vào những cơn gió, rồi bỗng một đêm mà cả người già nhất cũng chỉ có thể đoán chờ, có thể đêm nay, có thể đêm mai đấy, chứ không bao giờ biết đích xác là đêm nào, nó đến.

Người ở làng có những sắc màu sặc sỡ tin rằng, vào đêm mà Mùa xuân đến, Mùa xuân bay trên bầu trời như một cơn bão tĩnh mịch trong veo vô hình đến cả đại bàng cũng không cảm thấy, rồi giữa đêm ấy Mùa xuân giáng xuống mặt đất một tia sét. Ở nơi mà tia sét ấy giáng xuống, đúng vào lúc ánh mặt trời đầu tiên chiếu xuống từ đỉnh Núi Lớn đằng đông, ở nơi ấy sẽ mọc lên bông hoa xuyên tuyết đầu tiên cũng trắng tinh như màu tuyết. Rồi tiếp theo bông xuyên tuyết đầu tiên đấy, anh em của nó sẽ mọc dần lên và chỉ vài ngày sau đã tràn ngập cả cánh đồng, kéo theo những bạn bè khác, màu trắng, màu xanh ngọc, màu tím, màu vàng, màu đỏ… Rồi những đọt lá xanh nhú ra từ những cành cây trong mùa đông vốn đen thui như củi mục, chẳng mấy chốc sẽ phủ màu xanh kín những cánh rừng thưa quanh làng. Khi đó những con ngựa sẽ bồn chồn, chúng không thể ăn tiếp cỏ khô trong chuồng nữa, và người ta phải thả chúng chạy ra thảo nguyên. Khi đó ngay cả những kẻ thờ ơ nhất, cũng sẽ nhận thấy trong gió thứ mùi đặc biệt, thứ mùi trong và mát, mùi của Mùa xuân.

Rồi băng tan trên mặt sông, tuyết tan dần, lăn ra thành những giọt nước, chúng hòa vào nhau rồi chảy đi, tiếng nước tí tách róc rách ở khắp mọi nơi, trộn thành một bản nhạc vô tận được chơi bằng hằng hà sa số những cây đàn ba dây.

Mùi gió trong và mát, bản nhạc rung rinh muôn trùng của những giọt nước đang rơi khắp thảo nguyên xa vạn dặm, là thứ mà đột nhiên mùa xuân năm nay cô mới biết tới. “Đó là cô ấy, cô bé quàng khăn đỏ của chúng ta” – những tên cướp biển kể – con gái của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm”. Bản nhạc của mùa xuân này cùng với những sợi tơ rung động mơ hồ đến với cô bé khi cô ngồi trên thảm hoa gần bến nước, ngắm nhìn dòng sông và thỉnh thoảng dõi mắt về cuối chân trời nơi con đường quanh co biến mất, nơi mà cô tin cha mình sẽ trở về từ đó và cô muốn mình là người đầu tiên nhìn thấy người lữ hành cô đơn ấy.

Người trong làng vẫn chào cô bé, “chào Cô bé quàng khăn đỏ, Chúa sẽ phù hộ cho cha cô bình an sớm trở về, như đã từng như thế”, nhưng đôi khi cô đã bắt gặp những ánh nhìn có nét gì khác lạ, mà trước đây cô chưa từng nhận thấy. Đã thêm ba năm và thêm một mùa đông, cha cô chưa trở về.

Ở ngôi làng mà khi xưa những người khách buôn thoáng đến và thoáng đi cho rằng là nơi không có nỗi buồn, thì giờ đây trong mắt nhiều đứa trẻ mất cha đôi khi đến cả kẻ thờ ơ nhất cũng nhận thấy nét hoang vắng. Những đứa bé gái nhỏ không còn lớn lên giống mẹ của mình, còn những đứa bé trai lớn lên như thể chúng sẽ đợi những bầy ngựa đen mang trên mình những kẻ đeo kiếm cong.

Cuối mùa đông vừa rồi, trong làng đã có một đám cưới mà người già gọi là đám cưới đầu tiên của con mười sáu kỵ sỹ. Trong đám cưới ấy, người già bảo kê hai bàn dài, kê vào đó mười sáu cái ghế không ai được ngồi. Người ta đặt thức ăn trên bàn trống ấy, rót rượu vào mười sáu cái chén không người uống đấy. Đầu bàn là chén của hai người cha, cha của chú rể và cha của cô dâu, ở giữa là hai chén ấy là chén của Kẻ-đi-tìm-những-thanh-gươm. Trong đám cưới ai uống xong chén rượu của mình cũng phải đến uống một trong mười sáu cái chén ấy. Vào cuối bữa tiệc, chú rể đã uống một lượt mười sáu chén rượu, mỗi chén đọc một câu thành ra một bài thơ chưa ai từng biết, nhưng nó cũng không đủ hay để người ta nhớ được.

Mùa xuân năm ấy, người trong làng bắt đầu đồn đại nhau về sự xuất hiện trở lại của sói. Những người nông dân đi làm đồng xa kể rằng họ nhìn thấy những vết chân sói trên những rẻo đất ẩm ướt. Những người thợ săn kể rằng họ nghe thấy tiếng tru của sói ở những chân núi không xa lắm, mà trước đây ở đoạn đó họ không nghe thấy bao giờ.

Sói Lucas đã trở lại. Hồi thằng bé nhà tôi còn rất nhỏ, tôi thường đọc cho nó mấy tập truyện tranh mỏng về Sói Lucas. Còn con sói trong câu chuyện này chưa có tên, tuy nó cũng trở lại rồi, với những vết chân khổng lồ, gần gấp đôi vết chân những con sói khác. Vào đêm khuya ấy ở cái thành phố tuyết đang tan ấy, tôi nghĩ rằng cuối cùng Kẻ đi tìm những thanh gươm sẽ chôn mười sáu thanh gươm ở rìa làng, cùng với xác con chó sói, rồi hắn nắm tay đứa con gái đi về nhà. Hoặc là con bé con sẽ cùng với người yêu của nó, con trai của một trong những thanh gươm, sẽ chôn xác con sói cùng bộ hài cốt người cha cùng với mười sáu thanh gươm rỉ sét.

Khi tôi trở về Hà Nội sau chuyến công tác ấy, không gian của câu chuyện cổ tích này đã hoàn toàn bị đóng lại với tôi. Game này đã trở nên tắc tị và tôi không chơi tiếp được nữa. Cái nỗi day dứt cô đơn của buổi chiều hè ấy do bia, vodka và bản nhạc kia tạo ra đã không còn nữa.

Hôm nay trong cảm giác thư thái rất sung sướng, tôi lại thả mình một lúc vào những không gian mới mẻ khác, trước khi điện thoại tự nhiên rung liên hồi và tôi buộc phải quay về với công việc. List nhạc của tôi, giữa các cuộc điện thoại, bỗng lôi ra đúng cái bản nhạc Sông đông êm đềm đó, khiến tôi nhớ lại con sói. Tôi lục file word và paste vào entry này, biết đâu lúc nào rảnh rang đọc lại những bài viết cũ, không gian lại mở ra và tôi lại viết tiếp nó, cho vui, tôi vẫn muốn phá đảo game này để xem con sói cuối cùng chết như thế nào.

Bản nhạc đây, tôi phải mất một lúc lâu lâu mới tìm lại được trên youtube, dù file mp3 thì tôi vẫn vứt trong một thư mục nhạc lộn xộn của mình:

https://www.youtube.com/watch?v=dm8AougOGDk&index=16&list=RDWumpEVjK4dA

***

Bây giờ tôi cũng không còn nhớ tại sao cái bản nhạc này lại khiến tôi bỗng nhiên muốn kể một câu chuyện cổ tích cho riêng mình.